Thử mở một cánh cửa vào thế giới thơ Nguyễn Nguyên Bảy

THỬ MỞ MỘT CÁNH CỬA VÀO THẾ GIỚI THƠ
NGUYỄN NGUYÊN BẢY *

Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Anh Tuấn

Trong một bài thơ, NNB hé lộ cho người đọc thơ biết lai lịch đời anh cùng xuất xứ những vần thơ đầu tiên của anh:

Nơi ấy, các cô gái đều là tiên nữ
Áo quần mớ bẩy, mớ ba
Yêu nhau bắc cầu giải yếm

…Nơi ấy các bà tiên dạy tôi biết khóc
Các bà tiên dạy tôi biết cười

…Nơi ấy là kinh thành cổ tích
Nơi ấy là đời tôi…

Và trong một bài viết ở trang mạng Nguyennguyenbay.com, chúng ta đọc được những dòng sau:

“Tôi là một nghiệp dư thơ. Một nghiệp dư say mê thơ điên cuồng, chép chép ghi ghi và chôn ghi ghi chép chép ấy vào mộ huyệt của im lặng, chỉ thỉnh thoảng, không cưỡng nổi điên khùng, nửa đêm thức giấc, ngửa mặt nhìn trời đọc thơ gửi mây, tặng gió.”

Nhưng, những dòng tự bạch bằng thơ đầy thi vị lẫn trần trụi văn xuôi trên chỉ giúp ta có thêm mối đồng cảm ban đầu khi đọc thơ NNB, chứ tuyệt nhiên không giúp ta mở thêm một cánh cửa để dễ dàng bước vào thế giới thơ anh! ( Xin được dùng lại khái niệm ”Thế giới thơ” mà GS Hoàng Như Mai đã viết về thơ NNB).

1. Ta có cảm tưởng, thơ NNB giống như một cuốn kinh đồ sộ tập hợp biết bao suy tưởng cảm nhận của người thơ về đời sống, về cội nguồn của đời sống và của thi ca… Song cuốn kinh ấy lại tựa ma trận của lòng người mà bản thân người làm thơ cũng phải thấy ngợp, đôi lúc có cảm giác chết chìm, có điều đã luôn phải vùng quẫy để thoát ra khỏi cơn lũ ngôn từ và ấn tượng để quan sát, để chiêm nghiệm; và trong khi quan sát chiêm nghiệm đời sống thì quan sát chiêm nghiệm ngay chính những ấn tượng, những kinh nghiệm sống cùng quan niệm xử thế của mình, để rồi từ đó, “Thơ đã ra đời như những liều thuốc giải độc trí tuệ, vì nếu thơ không được sinh ra hẳn tôi đã mắc chứng điên và bị buộc phải vào nhà thương Thường Tín. Thơ đã ra đời như một thách đố tôi, một tự tôn tôi, một khẳng định tôi, một kiêu hãnh tôi đối nghịch với mời gọi của cơm áo và danh giá…”– như chính tác giả tự bạch. Như vậy đối với NNB, làm thơ chính là một cách ứng xử chủ yếu với đời, một cách bảo vệ phẩm giá đặc biệt, một vũ khí hữu hiệu chống lại sự đểu giả, là một lý do và một phương thức chính để tồn tại…

Nhưng trong khi “tìm cho mình một con đường khác, lầm lũi riêng mình, lầm lũi yêu thơ”, NNB hầu như không bao giờ hoàn toàn hòa nhập vào cảnh ngộ, mà anh thường có góc riêng kín đáo nhìn đời, nhìn chính thân thế và tâm trạng của mình để phát hiện ra các thi tứ và “tụng” thành thơ sau khi đã âm thầm vượt qua bao nỗi buồn đau cay đắng. Thơ NNB làm ta liên tưởng tới hệ thống sân khấu của Bertolt Brecht- các diễn viên ra sàn diễn cho người xem biết mình sẽ đóng vai gì trong vở, sẽ trình bày vấn đề gì ( trái ngược với hẳn hệ thống sân khấu của Stanilavski ngay từ đầu đã cuốn người xem vào ảo giác, đồng nhất diễn viên và nhân vật ); điều này chẳng xa lạ với nguyên lý mỹ học của sân khấu dân gian VN ( như chèo) mà một trong những cốt lõi của nó là cách điệu hóa và xa lạ hóa – “Ta ra đây có phải xưng danh không nhỉ?”… Sau khi đã tạm thời “hóa thân” vào nàng Kiều và các nhân vật của Truyện Kiều, vào Từ Thức, vào các bà Tiên, vào Sông Cái, vào Kinh thành Cổ tích, vào Thánh Thơ,… nhà thơ dần lùi xa khỏi những nhân vật tưởng tượng để bắt đầu miêu tả, dựng lên thế giới tinh thần của họ – bằng cách đó mở rộng đến gần như là vô hạn biên độ của xúc cảm và tư duy nhận thức cho bản thân sau đó là cho người đọc.

Sau khi đã “khách quan hóa” nhân vật trong tưởng tượng, NNB làm công việc khảo sát, đánh giá về thân phận, phẩm cách… của nhân vật đó và đồng thời cũng tự bộc lộ thân phận cùng phẩm cách của chính người thơ. Thường là, từ một nguyên cớ, một biểu tượng giàu sức thuyết phục hay đã từng quen thuộc trong đời sống lịch sử- văn hóa dân tộc, sau khi đã làm giàu có thêm cho biểu tượng bằng nội lực văn hóa thẳm sâu và thăng hoa nó bằng xúc cảm thơ tràn trề, anh quay trở lại đào sâu mãi vào chính nội tâm đang ngổn ngang ( thậm chí có thể còn đang hoang mang nữa) của mình như đã tìm được chỗ dựa, đã tìm được vỉa mạch, và chính tại những chỗ này, khi “Anh bật khóc thành tiếng/ Nước mắt tràn đê” , thơ anh thường lóe sáng một cách thực bất ngờ, khiến người đọc rung động ngây ngất… NNB thường đem cả trải nghiệm đời mình làm chỗ dựa, làm sự tham chiếu cho từng câu thơ một! Và phải chăng điều này cũng đã góp phần quan trọng khiến thơ NNB trở nên vô cùng phong phú- phong phú đến rậm rịt làm người đọc như lạc vào mê hồn trận của chữ nghĩa phập phồng cảm xúc của tác giả nhưng vẫn được tác giả kéo riêng ra một chỗ để suy ngẫm về nhân tình thế thái… ( Tiêu biểu như các bài Từ Thức bơ vơ, Sông cái mỉm cười, Ô cửa vuông trăng, Âm dương, Gia phả, v.v.)

Nhưng ngay cả khi viết về ( hay viết cho) một đối tượng gần gũi thân yêu nhất, NNB cũng sử dụng biện pháp tạm gọi là “phân thân” này. Trong bài “Hai ngôi sao không lặn bao giờ”, đoạn đầu nhà thơ bày tỏ tình cảm trực tiếp với vợ: “Anh không nhận ra em/ Một năm có là bao xa cách/ Em ủ đầu anh vào ngực/ Anh không thể nào hỏi được/ Sao tiều tụy thế mình ơi?” Nhưng ngay liền đó, nhà thơ tách ra khỏi quan hệ trực tiếp để quan sát người vợ kỹ càng hơn, thông qua biểu tượng là đôi mắt, và đồng thời quan sát miêu tả chính nỗi xúc động của mình- hơn thế, để khái quát về thân phận của người phụ nữ trên “đường đời nhiều cạm bẫy”: “Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt chạm chạp u buồn/ Một nốt ruồi đẫm lệ/ Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt vẫn như ngày nào/ Đôi mắt ngày nào tôi nói yêu em/ Đôi mắt khép nhận lời/ Chỉ còn đôi mắt của vợ tôi/ Toàn thân em như cây thị rũ lá/ Khô cành trước gió ban mai/ Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt kể tôi nghe/ Lưng ngày nắng quật/ Đêm ngồi bỏng vú nuôi con/ Vai gánh nỗi thương chồng/ Đi xa đường đời nhiều cạm bẫy/ Chỉ còn đôi mắt/ Đôi mắt đổ xiêu.” Tới đoạn 3, đoạn sau cùng, nhà thơ lại trở về vị trí trong đoạn thơ đầu, trực tiếp tâm tình với vợ ; nhưng ở đây, đôi mắt đã được tách ra thành đối tượng thẩm mỹ riêng biệt đối với cả hai người, và đó chính là một sự “phân thân” cấp số nhân khiến cảm xúc được dồn nén nghẹn ngào suốt từ đầu bài thơ đến cuối cùng chợt vỡ òa: “Anh ôm đôi mắt ấy/ Bỗng òa đôi mắt khóc/ Tình rụa ràn mặt anh/ Đôi mắt u hoài trong vắt/ Đôi mắt ấy chính là hai ngôi sao trên trời/ Đêm đêm nhìn anh/ Thức với anh/ Đi cùng anh/ Hai ngôi sao không lặn bao giờ.” Thương cảm nhưng không chìm ngập trong nó mà để đúc rút ra được biểu tượng của Cái Đẹp và Tình Thương! Đây có thể nói là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu cho phong cách NNB (tạm gọi thế); và nếu tôi có trách nhiệm trong Ban tu thư soạn SGK, tôi sẽ đưa ngay bài này vào chương trình văn học bậc phổ thông trung học!

Nhìn chung, ở thơ NNB, các yếu tố tự sự ( narrative) và trữ tình ( lyric) hòa quyện khó phân biệt – trong tự sự đã thổn thức trữ tình và khi trữ tình lại đậm đặc tự sự – đó là một thứ tự sự giống thể văn kệ của văn học Phật giáo song lại giàu trực cảm. Sự trang trải thi hứng đến ào ạt không ngăn cản NNB thường cô đúc câu của thơ mình vào một hình thức ngắn gọn, mộc mạc như lời nói thường ngày song có sức nặng triết lý như châm ngôn, tục ngữ và gửi gắm được suy tư thâm trầm của một ” thầy phù thủy” chữ nghĩa.( “Có đường bởi có bước chân/ Có ngã ba bởi đời cần tìm nhau” – “Xin đừng hỏi anh vì sao/ Viết hoài chuyện tình hai đứa/ Anh còn gì khác tặng em” – “Em đã trả lại anh cho đời/ Đã trả lại dòng thơ thủ thỉ cho yêu/ Cái chết bỗng trở thành hèn nhát” – v.v. )

2. Ngay từ những bài thơ đầu tiên của mình, NNB dường như đã có xu hướng huyền thoại hóa những hình ảnh, những chi tiết thơ, những quan sát cùng nhiều thi liệu khác đã trở nên quen thuộc thậm chí mòn sáo nhưng khi nhìn qua “Gằm gằm nỗi gì sau đít chai” cộng với một tình thương trĩu nặng thường trực thì “ngựa lá đa sẽ hóa ngựa thần”… Xu hướng tinh thần và dần biến thành quan niệm sáng tác vững bền này khiến người thơ thỏa sức chìm trong “Ký ức ca dao”, trong “lung linh cổ tích đêm mơ” và biết bao biểu tượng của văn hóa dân tộc gần gũi với mỗi người dân Việt từ thở ấu thơ cho đến khi từ giã cõi đời- dù ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Thơ NNB, từ thời xa lắm cho tới gần đây nhất, hầu như chỗ nào cũng ướt lệ và thầm thì âm hưởng những lời ru nao lòng “rợp từng đàn cò trắng” hay “âm âm lời Chinh phụ lời Kiều” … Nhà thơ đi trên “một con thuyền Trương Chi“ suốt từ thời tráng niên cho tới ngày lên lão mà chưa hề thấy mệt mỏi, chán nản, ngược lại dường như càng đắm say thêm những gì được thấy được nghe trên con thuyền ấy- kể cả tiếng hát cô đơn xa xót của chính mình… Lắng sâu vào cuộc đời dân tộc, đúng hơn là vào hành trình đau khổ của dân tộc- bằng phương tiện khi là lục bát, lục bát biến thể, khi bằng thơ không vần, thơ văn xuôi- nhà thơ bằng cách đó làm giàu có cho tinh thần mình, để trước hết dạy dỗ các con thông qua những “Bài ru trằn trọc” về những lẽ đời nghiêm trang cảm động- và bài học quan trọng nhất là tình thương, lòng trắc ẩn- cái điều đang thiếu trầm trọng trong hệ thống giáo dục của ta! Tôi bỗng nhớ đến Châm ngôn thứ hai trong việc giáo dục học trò ở một tác phẩm lớn của J.J. Rousseau chính là câu thơ Latin của thi hào Virgile: “Tôi biết điều bất hạnh, chính nó dạy tôi cứu giúp những người đau khổ”. (1) NNB bơi lội hít thở trong cái “trường” văn hóa dân tộc đậm đà tình nhân ái của ông cha từ thở thơ ấu, từ buổi “lần đầu tiên thấy mình lòng tôi chiêng trống”, mà đối với anh dù đi suốt cuộc đời “vẫn là mới sáng hôm qua”… Nhưng không phải nhà thơ vay mượn những hình ảnh ấy, vay mượn những biểu tượng và sự thụ cảm dân gian ấy, mà chúng thực sự là máu thịt của anh, nảy sinh từ trong huyết quản và từ tận tế vi tiềm thức, chúng được chứng thực bằng nỗi đau riêng và nỗi đau chung của anh!… Lắng nghe một cách chăm chú chật vật, giao tiếp một cách đau đớn, đối thoại một cách vật vã, để rồi sau đó nhà thơ chỉ làm cái việc là vội vàng run rẩy ghi lại một cách chân thật những gì mà tiềm thức nói, những gì mà chàng Từ Thức tâm sự, những gì mà Thánh Thơ Cao Bá Quát dạy bảo, những gì mà nàng Kiều thổn thức, những gì mà bà Tiên phán truyền, những gì mà người cha trăng trối… Sự thống nhất khá bền vững của hệ thống thi liệu và cách thụ cảm dẫn tới nghệ thuật biểu hiện rất nhạy cảm với nỗi khổ đau này, theo tôi là một nét đặc sắc riêng biệt khó trộn lẫn với bất kỳ ai của thơ NNB, lý giải phần nào sức cuốn hút gần như huyền bí của thơ anh ( mà nếu là các nhà phê bình chuyên nghiệp sẽ đưa ra lý luận về thi pháp để soi rọi, phân tích, còn một kẻ tay ngang như tôi thì không dám lạm bàn.)

3. Tạm kết.

Trong một tập sách đối thoại về thơ rất thú vị mới đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Tùng có dẫn câu nói của nhà thơ Wiliam Carlos Wiliams: “Khó mà có thể tìm ra các tin tức trong thơ, thế nhưng hàng ngày, con người vẫn chết thê thảm vì họ thiếu những điều chỉ tìm thấy trong thơ.” (2) “Những điều chỉ tìm thấy trong thơ” đó- dĩ nhiên phải là thơ thứ thiệt- chúng ta có thể tìm thấy trong từng dòng, từng trang thơ NNB mà ở đó anh đã thành thật đến não lòng kể lại: “Thơ tôi đã ra đời trong tiếng gõ cửa dồn gấp, trong những lời kêu thét bệnh hoạn, trong đói nghèo muốn cuốn đời vào hèn hạ, nhưng nó vẫn kiêu hãnh khóc như trẻ sơ sinh, trên cái bàn chí đứng ba chân (một chân đã mọt gãy), với một gía sách, trong căn nhà lá 8 mét vuông, lợp giấy dầu, cạnh chuồng tiêu, ao bèo, bè bạn với côn trùng và muỗi đói…” Và đây nữa: “Những dòng thủng thẳng này được viết ra trong đói nghèo không thể tả bằng ngôn ngữ và trong những khủng hoảng tinh thân triền miên, vô lý. Nhưng lòng vẫn cố không rời phao thơ để nâng xác, cứu hồn… nếu như bạn biết tôi đã phải sống trong hoàn cảnh nào, về thân xác tôi bị đói rét hành hạ, về tình thần tôi bị ruồng bỏ và canh gác sát sao. Tôi đã chép những chán nản ấy, những thất vọng ấy, những cay đắng ấy vào thơ. Và hân hoan thay, thơ trả lại cho tôi những dòng chữ nghĩa như khí cho tôi thở, như lửa cho tôi chế biến thức ăn, như sông suối cho tôi tắm mát. Đó là đức tin phải có, đức tin phải sáng rạng trong tâm hồn…”

Thưa Bạn yêu quý thơ NNB, hãy thử, với một cánh cửa tạm mở như trên mà bắt đầu ( hay thêm một lần nữa) bước vào thế giới thơ NNB, và trước hết hãy đọc nó như đọc một tập kinh cầu nguyện khi ta có Đức tin về Thơ, về Tình thương và Ân nghĩa trong Cõi Đời còn nhiều gian truân và ngang trái này…

Hà Nội, đêm Nguyên tiêu – Tân Mão

Nguyễn Anh Tuấn ( Đạo diễn điện ảnh)

______________________

* Thơ Nguyễn Nguyên Bảy, Nxb văn học, HN, 2010

1. “Émile hay là về giáo dục”- Nxb Tri thức, HN, 2008

2. Dẫn theo “Thơ đến từ đâu”, Nxb Lao động, HN, 2009

Một suy nghĩ 3 thoughts on “Thử mở một cánh cửa vào thế giới thơ Nguyễn Nguyên Bảy”

  1. Cám ơn anh Nguyễn Anh Tuấn đã gởi bài này. Thơ anh Nguyễn Nguyên Bảy đã hay rồi–nhất là những dòng thơ cho vợ, thật là da diết và chí tình, cổ kim rất hiếm thấy–mà lời bình của anh Nguyễn Anh Tuấn lại rất là sâu sắc.

    Cảm ơn hai anh.

    Số lượt thích

  2. Xin hai tri kỷ của người thơ Nguyễn Nguyên Bảy, bạn Hoành và bạn Tuấn, nhận lời chào ơn của một học trò thơ và kinh dịch của thầy BNN, tên Tùng Bách.

    Ơn trời, các anh đã viết và khởi đăng những dòng văn trấn động thi đàn.

    Tôi xin góp ngay hai bài nguyên gốc của Người Thơ Nguyễn Nguyên Bảy, được nhắc nhấn trong bài viết “…Thế giới thơ Nguyễn Nguyên Bảy”, một thơ, một văn xuôi.

    Thơ:

    Hai Ngôi Sao Không Lăn Bao Giờ

    Anh không nhận ra em
    Một năm có là bao xa cách
    Em ủ đầu anh vào ngực
    Anh không thể nào hỏi được
    Sao tiều tụy thế mình ơi ?
    .
    Chỉ còn đôi mắt
    Đội mắt chậm chạp u buồn
    Một nốt ruồi đẫm lệ
    Chỉ còn đôi mắt
    Đôi mắt vẫn như ngày nào
    Đôi mắt ngày nào tôi nói yêu em
    Đôi mắt khép nhận lời.
    .
    Chỉ còn đôi mắt vợ của tôi
    Toàn thân em như cây thị rũ lá
    Khô cành trước gió ban mai
    Chỉ còn đôi mắt
    Đôi mắt kể tôi nghe
    Lưng ngày nắng quật
    Đêm ngồi bỏng vú môi con
    Vai gánh nỗi thương chồng
    Đi xa đường đời nhiều cạm bẫy
    Chỉ còn đôi mắt
    Đôi mắt đổ xiêu.
    .
    Anh ôm đôi mắt ấy
    Bỗng òa đôi mắt khóc
    Thủy rụa ràn mặt anh
    Đôi mắt u hoài trong vắt
    Đôi mắt ấy chính là hai ngôi sao trên trời
    Đêm đêm nhìn anh
    Thức với anh
    Đi cùng anh
    Hai ngôi sao không lặn bao giờ.

     
    Văn xuôi:

    Thơ sinh ra như thế nào ?

    Với thơ, không thể có những lời dậy dỗ, những lời khuyên bảo và ngay cả những trò nhảm của kinh nghiệm lộng ngôn là rút ra từ gan ruột. Bởi thơ như có lại như không. hư hư thực thực, vừa là ngũ cung lại vửa là bẩy nốt, mới là lập đông hoa cải vửa là chớm xuân mai vàng, vừa là tiếng hát mẹ, vửa là tiếng khóc em, vừa là mặt trời,lại đã mặt trăng, vừa là mây bay đã là gió thổi, vửa là hợp đã tan, tan rồi lại hợp…Chẳng biết hư thưc thơ này cư ngụ trong óc hay trong tim? Theo lẽ tự nhiên, khi cấn thai, trái tim có trước, nên có lẽ thơ ngụ trong tim, đập cùng tim cho đến khi ngừng đập, thơ theo hồn về trời.

    Vì thế, những dòng thủng thẳng này không tuân theo bất kỳ một lý thuyết,trường phái kim cổ nào, chỉ đơn thuần là những lời bình dân, ngẩu hứng, mình nói cho mình nghe, nghe để soi mình, thấy mình, mà tu thân, tu thơ. Nói thêm,những dòng thủng thẳng này được viết ra trong đói nghèo không thể tả bằng ngôn ngữ và trong những khủng hoảng tinh thân triền miên, vô lý. Nhưng lòng vẫn cố không rời phao thơ để nâng xác, cứu hồn. Nên thủng thẳng này viết mỗi ngày, đôi dòng, mong như một thần dược hóa giải tình thơ thoát họa tự nhiên lão, tử.

    Vì thế, niên viết,1975, được nhấn như một khuyên son, về mốc thời gian quan trọng với một đất nước, một dân tộc và với mỗi đời người đã đi qua dài rộng những gian lao của bao năm ( xin không tính đếm) khói lửa, nay được thống nhất,thanh bình. Đầu tôi vỡ ra bao nhiêu mới lạ của dối trá và sự thật, trái tim tôi nức nở đòi đổi thay những hoan ố đã lập trình. Vì thế, lẽ nào tôi không thủng thẳng với thơ?

    Ai đã nói: Cái đẹp nghệ thuật tuyệt nhiên chưa hẳn là cái đẹp ngoài đời.

    Một sáng nay buồn. Rất cụ thể. Ta có thể nghe lòng hiu hiu, cũng có thể ta khoái cái buồn này, vì nó cân chỉnh âm dương ta đang thăng hoa hoan lạc, hoặc đứng hoài sân ga trước một đi xa ai đó, chỉ để lại môi thơm trong hôn gió, và cũng có thể nỗi buồn sáng nay khiến ta vô cớ chửi chó, mắng gà. Đó là một sáng buồn ngoài đời.Nhưng nếu nỗi buồn ấy bước vào thơ thành Xuân Diệu ” Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” thì nỗi buồn trở nên đẹp vô cùng, an ủi, chia sẻ, ấm áp khiến lòng nhẹ vơi tất cả khi ngân nga tiếng thơ buồn…

    Ta đang buồn hay ta đang vui ? Nếu buồn thì dù ta không đưa người sang sông vẫn nghe thấy tiếng sóng vỗ ở trong lòng. Còn nếu ta đang vui thì chân ta có thể đi trong mây gió mà hát múa cùng tiên. Vấn đề là tâm trạng chia sẻ.Thế nên, đừng tưởng chỉ những gam mầu sáng, hồng, cười mới dành cho những lời tụng ca thành tích (tiền và danh), còn những mầu xẫm tối,buồn khóc thì không. Đời tự nhiên đã muôn mầu muôn sắc, cớ chi thơ không muôn sắc muôn mầu. Vấn đề là trước cảnh, trước người, trước sự, trước việc ấy lòng ta buồn hay lòng ta vui? Thành thực với chính mình, thì buồn vui gì cũng tuôn chảy ra vần điệu, và đó chính là thơ.

    Nói những lời trên thực chẳng có gì mới, nếu không muốn nói quá cũ nhàm. Dù biết vậy, nhưng ngày nào tôi cũng tự nhắc mình điều cũ nhàm ấy, và luôn thấy nói nó mới mẻ với tranh đấu trong mình và cố mà chiến thắng. Thành thực với chính mình ắt nhận ra tình yêu, tình thích, tình giận, tình thù và ngay cả những sục sôi phẫn nộ. Muốn vậy, phải cố mà tránh những khuôn mẫu nghĩ, những thói bầy đàn lười biếng, những dụ dỗ của danh tiền tầm thường, để mặc vội vã cho ngôn từ tấm áo ” bảo là thơ” để tụng ca minh họa, để trăm bài thơ giống ngàn bài thơ, một giọng,một điệu, thậm chí một vần đều như đúc ra từ một khuôn thơ, thành thứ tân văn vần (không phải văn vần mới, vì văn vần mới hàm chứa một sáng tạo thơ ). Tân văn vần nói ở đây chỉ là những mình họa vội vã một sự kiện, diễn ca một chính sách, nôm na một công tích hay vụng về một lời dậy dỗ. Tân văn vần không là tiếng lòng, mà là tiếng óc mách bảo. Như đã nói ở trên, thơ bơi sông tim còn biển óc là lãnh hãi của toán tin hay lý không gian hay triết luân gì đó.

    Tân văn vần sắp xếp tư duy, sắp xếp những cái nhìn chính sách, nương những tụng ca theo chiều gió, sự nương ấy chuẩn mây, chuẩn gió, sự nương ấy không nghe tiếng thì thầm con tim, mà chỉ theo sắp xếp, theo cái nhìn thói quen, cái nhìn lợi lộc cho danh vọng. Buộc người đọc, vốn sinh ra không ai giống ai, phải tuân theo một lô gích chủ quan thi sĩ, và thi sĩ thả sức trình diễn nôm ca. Và cứ thế sản sinh một thứ loại thơ của những con cu đất, những con sẻ ranh, những con chim cảnh bị giam trong lồng son gác tía cũng đồng tấu một thứ thơ giống hệt nhau, cũ rích bên cạnh cái đói,cái rét và ngay cả cái nức nở của trái tim yêu ghét.

    Thơ ca hiện diện như một chiếc gương, soi vào đấy hiện lên vẹn toàn gương mặt thi nhân. Hồng mặt gương hay xám ngoét mặt gương, thi nhân tự thức.

    Tôi soi gương thơ và thấy đa phần những chân dung thi nhân đều làm hồng rạng gương thơ. Đa phần trong số đó là những thi nhân coi thơ như một chia sẻ lòng, thành thực, nhi nhiên, đáng yêu vô cùng, tiếc là đa phần họ không có mặt trên thi đàn, họ được coi là những nghiệp dư thơ. Tôi ngả mũ kính trọng họ, kinh trọng tôi, bởi tôi cũng có mặt trong số họ, chúng tôi đông đúc nhựng không bầy đàn, chúng tôi mỗi người là một con thơ riêng và ấp ủ tiếng hót riêng.

    Đưa ra khái niệm nghiệp dư thơ, tôi không có ý đặt lên bàn cân thi đàn Việt sự khác biệt giữa nghiệp dư và chuyên nghiệp, và cũng không có ý chê bai hay bênh vực thi nhân trên bất cứ lãnh địa gọi là chuyên nghiệp hay nghiệp dư, mà chỉ muốn nói rằng thơ không có khái niệm ấy, bời thơ là thơ, nghĩa thơ trong ba chữ và hết. Nhưng thật đáng tiếc là xã hội và quyền lực đã tự cho mình quyền chia thơ thành bậc chuyên nghiệp và cung nghiệp dư. Và chỉ thừa nhận sự đóng góp của thơ chuyên nghiệp cho non nước,cho nhân quần.

    Thiếu gì những chuyên nghiệp thi sĩ khai sinh một rừng một biển thơ toàn những lời hô hào rỗng tuyếch, toàn những lời diễn ca chính sách, toàn những lời tụng ca những dậy dỗ và tôn vinh những giả dối mọn hèn. Thế nên, thơ của họ làm sao vươn tới tầm vĩ đại của dân tộc đổ máu dằng dặc những năm dài giữ nước, của khổ nghèo nhân dân thắt lưng buộc bụng cho tiền phương giết giặc. Thế nên, thời tôi sống, nào được mấy trang thơ chói lói trả ơn cho những hy sinh, những đau đớn khổ cực của Mẹ Việt Nam Anh Hùng.

    Một sự thật không thể phủ nhận là, những thi sĩ chuyên nghiệp ấy có quyền lực chính trị, đã đồng hóa thơ với quyền lực,đồng hóa thơ với danh vọng cá nhân, đã trải chiếu thơ và mình chễm trệ ngồi giữa chiếu, thử hỏi còn thi nhân nào, còn thơ nào dám ngồi cùng chiếu và có ngồi thì cũng bầy đàn, khai sinh một thứ thơ tụng ca nhau và tự phong nhau chuyên nghiệp. Vì thế, một (thực ra nhiều hơn) thế hệ thơ đã phải chết dù ngồi chung chiếu hày không cùng chiếu thơ ấy.

    Muốn sống cho thơ, duy nhất một con đường nín lặng mà yêu thơ, mà chép thơ, và chấp nhận một nghiệp dư, mà góp tiếng thơ cho yêu mến đồng bào, cho ngoại sử của non sông.

    Anh đã cảm điều gì trước một bình minh ? ” Các anh đi suốt ca ba thẳng tời chiến trường/ Dón bình minh đất nước” (Lý Phương Liên). Anh đã cảm điều gì trước hy sinh mất mát của đồng bào ? Cha đứng trên thuyền/ Thuyền cười trên sóng nhấp nhô/ Cha chầm chậm hóa thân vào sông Cái*. Anh đã cảm điều gì trước sức mạnh của Phù Đổng Việt ? Sắc đỏ của máu và mầu hồng của da/ Mỗi chúng ta là một ngọn cờ*. Anh đã cảm cười hay cảm khóc trước một thế thái nhân tình, trước một tình yêu? Soi gương vui cả mặt gương/ Tình yêu nhón một cánh chuồn chuồn bay*

    Tôi là một nghiệp dư thơ. Một nghiệp dư say mê thơ điên cuồng, chép chép ghi ghi và chôn ghi ghi chép chép ấy vào mộ huyệt của im lặng, chỉ thỉnh thoảng, không cưỡng nổi điên khùng, nửa đêm thức giấc, ngửa mặt nhìn trời đọc thơ gửi mây, tặng gió.

    Thơ tôi đã ra dời trong tiếng gõ cửa dồn gấp, trong những lời kêu thét bệnh hoạn, trong đói nghèo muốn cuốn đời vào hèn hạ, nhưng nó vẫn kiêu hãnh khóc như trẻ sơ sinh, trên cái bàn chí đứng ba chân (một chân đã mọt gãy), với một gía sách, trong căn nhà lá 8 mét vuông, lợp giấy dầu, cạnh chuồng tiêu, ao bèo, bè bạn với côn trùng và muỗi đói.

    Thơ đã ra đời như những liều thuốc giải độc trí tuệ, vì nếu thơ không được sinh ra hẳn tôi đã mắc chứng điên và bị buộc phải vào nhà thương Thường tín. Thơ đã ra đời như một thách đố tôi, một tự tôn tôi, một khảng định tôi, một kiêu hãnh tôi đối nghịch với mời gọi của cơm áo và danh giá.

    Thơ là thơ. Vì ba từ của định nghĩa ấy tôi đã suýt “xong” một đời. Ôi, thơ chẳng là thơ thì là cái giống gì ? Các liền chị liền anh chuyên nghiệp dậy rằng : Nói thơ là thơ tức là cách nói khác đi của triết lý nghệ thuật vị nghệ thuật. Và các bậc anh chị viện dẫn mấy từ sau, cũng của tôi : Thơ không phải địa vị xã hội của người làm thơ. Đầy đủ câu chữ là : Thơ là thơ. Thơ không phải là địa vị xã hội của người làm thơ. 15 chữ ấy đủ cho một bản án không tuyên.

    Tôi, một mình đi dọc triền sông Cái, đi dọc đường xe lửa, chỉ thấy sóng bầm đỏ và những thanh tà vẹt gọi mời tôi vào hư vô, như thể chìm xuống sông, hay bị tầu hỏa nghiền xác, thì hồn tôi sẽ thăng hoa vào cõi được thỏa thích mà yêu một cuộc tình kiếp nạn* với thơ. May mắn tôi đã không tự tìm hèn nhát ấy, mà đã tìm cho mình một con đường khác, lầm lũi riêng mình, lầm lũi yêu thơ.

    Tôi yêu thơ vì tin rằng thơ không phản bội tình tôi. Thơ hiện diện và tồn tại như đời sống vốn có của nó là thơ, thật sự là thơ. Vì thế, đối với tôi tất cả những cao giọng, những hăm dọa, những hò hét đều trở nên nhẹ bỗng và thời gian theo gió bay qua, và kể cả khi những cao giọng ấy, hò hét ấy có cố bước vào thơ, có mặc áo thơ, thì sớm hay muộn thơ cũng cởi thứ áo giấy đó, đốt đi.

    Không phải trên đường tình yêu ấy, người yêu thơ không có lúc nản chí, ngã lòng. Tôi đã từng bước xuống thuyền “Bánh Bao cả Cần”, chấp nhận một chạy trốn khỏi tình yêu của mình. Nhưng bước xuống để rồi bước lên, vì tôi đã nhìn thấy sự phản bội không lời bào chữa, đó là sự phản bội tình thơ, mà cao hơn là sự phản bội cội Lạc Hồng, nơi mình được sinh ra và được nuôi lớn. Lúc ấy, trái tim tôi tự hát: Lý hương ư? Tóc bà heo may/ Lưng còng ngồi se sợi gió/ Nhà cha giột ai lên rừng tìm tre nứa/ Canh bờ rào mẹ nấu để ai ăn/ Hoa dại dại tay ai cầm/ Anh đi rồi ai tặng hoa em nhỉ?/ Kẽ chạy trốn bọc trăm trứng mẹ/ Nở thành người được chăng?*

    Tôi không xin xót thương của bạn, nếu như bạn biết tôi đã phải sống trong hoàn cảnh nào, về thân xác tôi bị đói rét hành hạ, về tình thần tôi bị ruồng bỏ và canh gác sát sao. Tôi đã chép những chán nản ấy, những thất vọng ấy, những cay đắng ấy vào thơ. Và hân hoan thay, thơ trả lại cho tôi những dòng chữ nghĩa như khí cho tôi thở, như lửa cho tôi chế biến thức ăn, như sông suối cho tôi tắm mát. Đó là đức tin phải có, đức tin phải sáng rạng trong tâm hồn, và thế là tôi hát cười mà sống, mà yêu thơ.

    Tôi đã nuôi tin điều gì ?

    Tôi đã tin vào một ngày kia, mà hiện thực là bây giờ ( những dòng này viết năm 1975), đất nước liền một giải Việt Nam, chiến tranh vĩnh hết, mọi nhân danh chiến tranh nhường chỗ cho nhân danh hòa bình, đen trắng lại sẽ phân minh. Tất sẽ không còn những vu khống yêu nước và bán nước, không còn những ngộ nhận giữa thơ và ngụy tạo thơ. Niềm tin ấy son sắt lòng tôi và tôi đi theo niềm tin ấy, không sợ cam go, không vướng muộn phiến.

    Và thơ tôi ra đời như thế, đều đặn, tự nhiên mà sung sướng với đời.

    Sáng nay thành phố sang thu/ Áo hoa cây mặc chắc từ hôm qua/ Gió đi gọi cửa mọi nhà/ Nắng đem lụa khắp gần xa phơi vàng/ Em cầm từng bước không gian/ Nghe như thu chuyển vội vàng đi đâu/ Cho dù chẳng ở dài lâu/ Lòng em cũng đủ nhuộm mầu thu vui… (Lý Phương Liên)

    Số lượt thích

  3. Cha ơi, con đã sinh ra như thế nào và Thơ của cha đã sinh như thế nào mà cha khổ thế? Con đã khóc đến cạn nước mắt khi đọc những dòng viết của cha.Lạy trời, hãy thương cha tôi…

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s