Những đại thành phố Á Châu, Tự do và Không tự do: Chính trị đã nhào nắn sự trưởng thành của Thượng Hải, Bắc Kinh và Seoul thế nào

Bộ mặt lấp lánh của Thượng Hải vẫn chưa khuyến dụ được đầu tư nước ngoài bỏ Hồng Kông. Stuart Franklin/Magnum Photos
Tác giả: Guy Sorman (Biên tập viên của City Journal, tác giả quyển “Kinh tế học không nói dối”, và là cố vấn của tổng thống Hàn quốc Lee Myung Bak)

Dịch giả: Trần Đình Hoành

Đô thị hóa ở mức độ phi thường đang xảy ra tại Á Châu, nơi mà những đô thị khổng lồ đang thu hút hàng triệu cư dân mới mỗi năm. Có lẽ điều đáng ngạc nhiên là đặc tính của các thành phố đang bành trướng nhanh chóng này phản ánh truyền thống địa phương ít hơn là phản ánh các điều kiện chính trị trong đó chúng phát triển. Một ví dụ rõ nhất là Manila, có lẽ là thành phố bất trật tự nhất ở Á Châu, đang lớn hơn từng ngày, khu ổ chuộc này sau khu ổ chuột khác. Dù Manilia rõ là có sức sống, khu trung tâm thành phố cố kiến trúc Tây Ban Nha đã xuống cấp thành một khu xập xệ bẩn thỉu, một phần là vì Phi Luật Tân luôn luôn có một nhà nước yếu và gian tham. Không một quan chức tham nhũng nào quan tâm đến, chẳng hạn, bảo vệ một khu phố lịch sử hay hoạch định hạ tầng cơ sở đầy đủ. Ở Manila, mạnh ai nấy lo—và điều này không chỉ đúng cho nhà nước mà cả cho lớp giàu có ưu tú, đã rủ nhau chuyển vào trong một khu kín cổng cao tường, gọi là Makati, nằm gần phi trường quốc tế hơn là phố cổ Manila.

Tuy nhiên, ta có thể thấy bằng chứng rõ ràng nhất về việc chính trị uốn nắn hình thể của các thành phố vĩ đại mới thế nào trong các điểm khác biệt giữa Seoul, thủ đô Nam Hàn, và các thành phố dẫn đầu của Trung quốc. Tận cùng thì, văn hóa của Hàn quốc và Trung quốc giống nhau. Cả hai được xây dựng trên triết lý đạo Khổng nhiều hệ cấp; cả hai đã có ảnh hưởng của Phật giáo. Nhưng Seoul thì dân chủ, và các tranh luận chính trị của một xã hội rộng mở đã ảnh hưởng sâu đậm đến sự phát triển của Seoul. Ngược lại, các thành phố của Trung quốc phản ánh sự cai trị độc đoán và tham nhũng của đảng cầm quyền.

Thượng Hải

Ví dụ Thượng Hải, thành phố lớn nhất của Trung quốc, với dân số hơn 19 triệu người. Khi xưa được người Âu châu xây dựng cho người Âu Châu, Thượng Hải vẫn giữ được vài con đường của quá khứ Tây-phương-ở Đông-phương và tự hào về một vẻ đẹp sống động, gần nhiệt đới, rất đáng yêu với khách du lịch. Nhưng nhà nước Trung quốc, chẳng đáng ngạc nhiên chút nào, đã tìm cách biến thành phố này thành một triển lãm lóng lánh của quyền lực Trung quốc đang lên—mục đích chính là để khuyến dụ đầu tư nước ngoài bỏ Hồng Kông. Chiến thuật này vẫn chưa thành công: Hồng Kông vẫn hấp dẫn hơn, dù là không phải vì các cao ốc đầy ấn tượng (Thượng Hải có thể cạnh tranh với Hồng Kông về chiều cao, nếu không về phẩm chất kiến trúc) mà vì Hồng Kông tuân thủ sự cai trị bằng luật pháp.

Thượng Hải là một “bộ mặt đắt tiền để bảo trì”, Yan Hanshen, phó thị trưởng phụ trách tài chánh xác nhận. Nguồn tài chính số một của thành phố vẫn là các xí nghiệp truyền thống, phần nhiều là quốc doanh, tiếp tục xay ra sắt thép, xe hơi, và vải vóc. Những xí nghiệp này, nằm ở phia tây thành phố, bị che giấu bên sau bộ mặt đắt tiền; chẳng mấy người nước ngoài đi đến tận đó. Để bảo vệ thêm cho bộ mặt lấp lánh của Thượng Hải,nhà nước kiểm soát dân số chặt chẻ. Quan chức xem các di dân từ thôn quê đến làm các việc lặt vặt ở Thượng Hải là một nét bẩn trên thành phố theo Tây và cản không cho họ sống ở Thượng Hải hoặc gởi con cái đi học trong thành phố. Muốn sống thường trực ở Thượng Hải, phải được sinh ra là dân Thượng Hải (một hệ thống dân tịch do người mẹ truyền lại—được sử dụng ở khắp Trung quốc). Có vài ngoại lệ, dựa trên tài năng—có bằng đại học thì tốt—hay có được một chứng minh nhân dân giả. Mọi người di dân khác làm việc trong Thượng Hải phải trở về các khu ổ chuột hay các cư xá nhân viên xập xệ ở ngoài rìa thành phố, xa trung tâm quốc tế của thành phố.

Bắc Kinh

Hệ thống cai trị chuyên chính cũng uốn nắn thủ đô, dù là một cách khác. Du khách đến Bắc Kinh không nên mong đợi thấy được các dấu vết của cố đô đẹp đẽ, vì đã bị xuống cấp, bắt đầu từ ngay sau cách mạng cộng sản. Tháng mười 1949, tại Thiên An Môn, chiếc cổng vĩ đại đưa vào cung điện, Mao Trạch Đông tuyên bố “giải phóng” Trung quốc và đòi chùa chiền được thay thế bằng ống khói hãng xưởng. Khoảng 1000 cơ sở tôn giáo, có nơi đã nhiều trăm tuổi, bị hủy hoại và đổi thành các xí nghiệp phun khói. Vào khoảng đầu thập niên 1960s, Bắc Kinh giống như là thành phố Birmingham [của Anh] giữa thế kỷ 19 hơn là một thủ đô mà du khách Âu Châu đã từng gọi là “Thành Phố Linh Thiêng”. Không nhúc nhích với các khẩn cầu từ các học giả, Mao còn phá các tường thành bao bọc Bắc Kinh, đã có từ thời thế kỷ 17. Mục đích lộ liễu là để giải quyết giao thông, nhưng thời đó chẳng có mấy xe hơi trong thành phố.

Năm 1979, đảng Cộng sản Trung quốc bắt đầu một thời kỳ đổi mới nhằm đưa Trung quốc vào nền kinh tế thế giới. Đối với Đặng Tiểu Bình và nhóm của ông ta, các xí nghiệp của Bắc Kinh không có vẻ tân tiến đủ, cho nên nhà nước đóng cửa và chuyển chúng ra ngoại ô. Nhưng những người cải tổ này cũng hoàn tất công việc phá hoại cố đô Bắc Kinh mà Mao Trạch Đông đã khởi sự. Thành phố cổ ngày trước là một hệ thống ma trận của các phường khóm gồm các căn nhà trệt xây chung quanh các sân nhỏ và cách nhau bởi các lối đi nhỏ gọi là hutongs. L‎ẽ ra thì những khu xóm truyền thống này đã có thể được gìn giữ và nâng cấp, nhưng nhóm cải tổ đã đập bỏ chúng với lý do y tế (lý do chính thức) và mua bán địa ốc (lý do thật), thay vào đó bằng những cao ốc văn phòng. Cư dân của các hutongs bị đưa vào các hộp giày xập xệ, do thành phố làm chủ, ngoài rìa thành phố, nơi tiền thuê nhà thỉ rẻ nhưng tiện nghi văn minh như thang máy và lò sưởi thì thiếu. Ngày nay nhà nước đang xây vài hutongs như ngày xưa, mục đích là làm hài lòng các du khách đi tìm Bắc Kinh chính thống.

Những cao ốc văn phòng của Bắc Kinh lóe sáng thời đại và làm cho các chủ đất—Đảng và hệ thống quân đội—giàu có. Nhưng chúng cũng làm thành phố nhìn xấu xí, vì được xây hấp tấp và chẳng quan tâm đến thẩm mỹ. Để nhường nhịn lịch sử, vài tòa nhà mới có vài nét quá khứ–như mái nhà truyền thống nhiều lớp, hay những mái cong trên đầu các cao ốc—nhưng những phối hợp này thường không hòa hợp. Ở đây lại cũng lại là bộ mặt. Một phần ba dinh thự để làm văn phòng bị bỏ trống vì tính toán cao hơn là nhu cầu của thị trường.

Hy vọng cải tiến bộ mặt tầm thường và thường là xấu xí của thành phố trước Olympics 2008, quan chức Bắc Kinh mang vào một số tên tuổi kiến trúc lớn của thế giới. Rem Koolhaas của Hà Lan thiết kế văn phòng mới cho Truyền Hình Trung Ương Trung Quốc; công ty Thụy Sĩ Herzog and de Meuron xây vân động trường Olympic Tổ Chim (the Bird’s Nest); Paul Andreu của Pháp tạo một nhà hát opera, Nhà Hát Lớn Quốc Gia. Nhưng những tòa nhà này, dù là người ta nghĩ thẩm mỹ thế nào về chúng, có thể đứng chỗ nào trên thế giới cũng được và chẳng có tí liên hệ gì với văn hóa và truyền thống Trung quốc. (Nếu người Trung quốc không muốn nhà hát opera hình quả trứng của họ, Andreu nói, họ có thể bán nó cho Canada). Cũng như các cao ốc văn phòng, những kỳ quan quốc tế vĩ đại này bị thiếu sử dụng đếm mức vô lý. Nhà hát opera Bắc Kinh hiện nay không có chương trình—thành phố là một khoảng trống văn hóa—và vận động trường Olympic bị bỏ không từ lúc hết Olympic.

Nơi ngày xưa là các tường thành của Bắc Kinh,ngày nay là đường ôm vòng thành phố. Một đường được xây, rồi một đường nữa khi dân số tăng, rồi thêm nữa. Ngày nay, bảy vòng đai xa lộ xoay quanh thành phố 10 triệu người. Hỏi một người dân Bắc Kinh sống ở đâu, bạn có thể nghe: “Chỗ nào đó giữa vòng đai thứ 6 và vòng đai thứ 7”. “Bắc Kinh còn hơn Paris,” ông thị trưởng lúc đó nói với tôi mấy năm trước. “Anh chỉ có một vòng đai xa lộ. Chúng tôi có tới 7 vòng đai”. Đướng xá nghẹt thở với giao thông như ác mộng (xe hơi không còn hiếm ở Bắc Kinh), dưới một bầu trời mờ mờ vì ô nhiễm môi trường.

Bắc Kinh không phải là một thành phố thân thiện. Ít có chỗ để đi bộ và hầu như không có công viên. Có vẻ như thành phố muốn làm đầy mọi khoảng trống với xi măng cao hết mức có thể. Rất hiếm có các cửa tiệm đứng một mình, vì rất tốn đất; các trung tâm mua bán đã thay thế hầu hết các tiệm như vậy. Dù thành phố có vẻ rất áp bức, không thấy nhiều bóng cảnh sát. Người trung quốc biết rằng ai phạm luật sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, vì vậy các thành phố có an toàn.

Giống như Thượng Hải, với cùng một tư duy pháp lý, nhà cầm quyền không cho di dân từ thôn quê vào ở trong các khu phố tốt. Và tháng tư này (2010), nhà nước Bắc Kinh đã thêm một lớp kiểm soát nữa để không cho di dân dùng quá nhiều thời gian trong thành phố: “Quản lý niêm phong”. Trong 16 làng ở ngoại ô phía nam Bắc Kinh, nơi mà đa số cư dân là di dân từ thôn quê, cổng sắt đóng kín ban đêm và khóa chặt dân chúng bên trong, ngoại trừ những người có giấy phép đi làm đêm. Quan chức đảng bộ địa phương tuyên bố rất đáng nghi là “80 phần trăm dân ở đó thích cách quản lý này, giúp gia tăng an ninh”. Thành kiến mạnh mẽ của Trung quốc chống người nghèo—làm mạnh thêm bởi kì thị của nhà nước—cũng đã làm cho các khu vực kín cổng dành cho người giàu như ở Mỹ trở thành phổ thông hơn. Những khu này, không bao giờ quá xa phi trường, thường rất dễ vào các sân gôn.

Bắc Kinh là một thành phố chết sau 8 giờ tối, ngoại trừ một vài đường phố dành riêng cho các hộp đêm của lớp trẻ vàng son—con cái của tầng lớp cai trị ưu quyền. Những lớp trẻ và giàu chẳng thèm giấu tiền của họ. Người ta có thể thấy ở trung tâm Bắc Kinh một tập trung của các tiệm sang, chuyên bán xe hơi xịn và thời trang đắt tiền, khách hàng hầu hết là những người Trung quốc lứa tuổi 20, được những người nghèo hơn gọi là “các ông hoàng nhỏ”.

Cố đô Bắc Kinh ngày nay chỉ còn lại được cung điện, còn được gọi là Tử Cấm Thành. Trong thập niên 1960s, khi tôi đến thăm, Tử Cấm Thành đứng sừng sững ở Bắc Kinh. Ngày nay, cao ốc bao quanh nó, cho nên nó có vẻ như là chìm vào trong thành phố mới. Đúng, Tử Cấm Thành không được hoàn hảo mấy 40 năm trước, nhưng việc tu bổ đôi khi làm rất dối—Ví dụ, các cột xi măng đỏ sặc sở thay các cột gỗ. Du khách Mỹ có thể hài lòng hoặc không hài lòng khi thấy cà phê Starbucks ở đó.

Seoul

Seoul, chỉ hai giờ bay từ Bắc Kinh, cũng là một kinh đô cổ cho đến khi Nhật xâm chiếm nó năm 1910. Cố đô Seoul cũng không còn lại nhiều dấu tích, dù cái hủy hoại nó không phải là cách mạng mà là Chiến Tranh Triều Tiên. Thanh phố đổi chủ 3 lần từ 1950 đến 1953. Cung điện cũ của vua và vườn thượng uyển còn sót lại, cũng như tòa thị chính và nhà ga xe lửa chính, xây theo kiểu “đế quốc” Nhật thời thập niên 1920s. Ngoài ra chẳng còn gì nguyên vẹn.

Seoul cổ nằm phía bắc sông Hàn; thành phố mới nay đã bành trướng sang cả phía nam. Dù những rặng núi bọc quanh Seoul giới hạn mở rộng, chúng đã không cản một luồng sóng di dân vĩ đại. Kể từ khi chiến tranh chấm dứt, hàng triệu người Hàn đã tràn từ thôn quê vào thành phố. Những chính phủ độc đoán của thời 1960s và 1970s, theo thị trường tự do và hướng đến tăng trưởng, chào đón nhóm dân quê vĩ đại đang tìm việc này, và các tập đoàn tư, các Chaebols làm đầu tàu cho phát triển kinh tế Nam Hàn, cũng thế.

Sau ba thập niên tăng trưởng phi thường—khoảng 10% một năm—dưới sự cai trị của các tướng lãnh, người Nam Hàn bắt đầu tìm một đời sống tốt hơn và tự do hơn. Năm 1993, dan chúng biểu tình đẩy quân đội ra khỏi quyền lực, và dân chủ tràn khắp đất nước cả ở trung ương lẫn địa phương. Ngày nay, dân Seoul bầu thị trưởng, và các nghị viên thành phố, và 25 huyện trưởng. Cũng như bất cứ nền dân chủ thực thụ nào, chính phủ bị phân chia cũng không là chuyện lạ. Từ cuộc bầu cử tháng 6.2010, Oh Se Hoon thuộc bảo thủ đã nắm ghế thị trưởng Seoul, trong khi nhóm cánh tả nắm đa số trong hội đồng thành phố.

Dân chủ hóa đã giúp biến Seoul thành một thành phố sinh động hơn trong một thời gian ngắn kỷ lục. Trước khi có dân chủ, nhà cầm quyền đeo đuổi tăng trưởng với bất cứ giá nào: địa ốc hoạt động không hạn chế, số xe hơi tư nhân vượt lưu lượng của đường xá rất nhanh, giao thông công cộng rất tồi, và không gian công cộng hầu như không hề có. Nhưng thị trưởng của Seoul trong thập niên 2000s, Lee Myung Bak—cựu tổng giám đốc Công ty Xây dựng Hyunhdai –hiểu rằng người dân Seoul muốn một trung tâm thành phố, các trung tâm thương mãi, vườn hoa, và không gian để mua sắm và đi bộ, và ông dẫn đầu một cuộc đổi hình của thành phố rất mạnh mẽ, bảo tồn những cái còn lại của quá khứ nhưng cải tiến lớn về các tiện nghi thành phố. Ông có được tên “máy cày” là có lý do chính đáng. Trong số các dự án Lee Myung Bak thực hiện khi ông còn là thị trưởng: Các bờ sông Hàn, trước khi dành cho gara và xa lộ, đã trở thành nơi người đi bộ đến được; một dòng suối cổ, Cheonggyecheon, đã từng chảy qua Seoul cho đến lúc bị một xa lộ chôn vùi, được hồi phục, làm cho trung tâm thành phố thành sinh động, một phiên bản Đại Hàn của Khu Meatpacking của New York. Những thay đổi được ưa chuộng giúp Lee Myung Pak thắng cử vào ghế tổng thống Hàn quốc tháng 12 năm 2007.

Hầu như mọi người trẻ Hàn quốc đều muốn di chuyển vào thành phố hấp dẫn này, tìm công việc tốt hơn, trường học tốt hơn, vui hơn. Những đường xe sắt cao tốc nối liền các tỉnh với thủ đô cũng đã tăng tốc việc đô thị hóa: các cặp vợ chồng trẻ có thể di chuyển vào Seoul nhưng vẫn có thể thăm bố mẹ vào dịp cuối tuần, và như vậy có thể tránh sự buồn rầu của việc bỏ đại gia đình lại sau lưng. Theo thị trưởng Oh, nếu bạn tính cả dân số của các thành phố phụ cận như là Incheon, là nơi có một phi trường quốc tế, khu vực Seoul có tổng cộng 25 triệu dân, một nửa dân số Hàn quốc. Ông thị trưởng tính là “10 triệu người hay hơn” sẽ thêm vào dòng di dân vào thành phố trong thập niên tới. Đây không phải là Trung quốc: Người Hàn quốc sống bất cứ nơi nào họ muốn, tự do thuê nhà, mua nhà.

Nhờ có quá nhiều người, đời sống đêm của Seoul đập nhịp mạnh: quán cà phê, nhà hát, trung tâm thương mãi đầy ắp các quận huyện. Trung tâm thành phố được ưa chuộng đặc biệt, với những con đường hẹp, nhà thấp, và một ma trận của các nhà hàng và các nhà trưng bày nghệ thuật. Các nhà thiết kế thời trang có khắp nơi. Phụ nữ Hàn quốc, không sặc sỡ bằng phụ nữ Trung quốc giàu có, có khuynh hướng thích thời trang cổ điển kiểu Parisian hay thời trang và vải vóc truyền thống Hàn quốc được cải biên tân thời.

Seoul khá đặc biệt so với các thành phố Á Châu ở điểm có đời sống văn hóa nhiều thành phần, từ văn hóa phổ thông xuất cảng từ mọi nơi ở Á Châu (các show nói hay các ban nhạc rock có hàng triệu fans Trung quốc hay Nhật bản) đến các các nghệ thuật mới, thông thái. Các nghệ sĩ, đạo diễn và nhà thiết kế của Seoul được chú ý‎ nhờ khã năng nối văn hóa truyền thống Hàn quốc với các kỹ thuật tân tiến (ví dụ, nghệ sĩ video nổi tiếng Nam June Pak thiết kế những Mandala Phật giáo từ những máy TV Samsung vất đi). Ở Seoul, cũng như ở New York và Berlin, người ta cảm nhận được nhịp đập của dân chủ. Có một chút tự hào dân tộc nhắm đến Nhật, quốc gia đô hộ trước đây, và Trung quốc, ông khổng lồ bên cạnh.

Mọi men say văn hóa này, dĩ nhiên, xảy ra ngay trong bóng của Bắc Hàn chuyên chính, chỉ cách trung tâm Seoul 30 dặm. Nhưng Bắc Hàn không là bóng ma quấy nhiễu cách sống của Seoul. Tôi nhớ một tâm trạng khác chỉ vài thập niên trước đây, trước thời dân chủ. Thời đó Bắc Hàn có vẻ đáng sợ hơn; nhiều học trò Seould nổi loạn có lẽ ủng hộ Bắc Hàn chống lại giới lãnh đạo quân sự ở Nam Hàn; nhiều người Seoul có gia đình ở miền bắc. Ngày nay, chỉ có vài trí thức thiên tả ở Seoul là còn đánh sáng tình cảm nhớ nhung Bình Nhưỡng. Đối với nhiều người Hàn quốc, Bắc Hàn không phải là một miền đất mơ mộng hay ác mộng. Nó đã biến mất khỏi tư duy của họ, có vẻ rất xa như mặt trăng; đó chỉ là một nơi bạn thấy trên truyền hình, không phải là một láng giềng bạn sợ hay một anh em họ hàng xa.

Du khách nước ngoài vẫn thăm viếng biên giới, có tên nổi tiếng là vùng phi quân sự, hay DMZ (demilitarixed zoned); ở làng Phanmunjion họ ngắm các binh sĩ Bắc Hàn diễn hành gần lằn ranh ngưng chiến, chỉ cách các binh sĩ Mỹ phía bên kia mấy thước. Nhưng người Seoul rất ít khi đến vùng phi quân sự, và khi họ đến là thường để đi picnic, bởi vì vùng đó, do tình cờ của lịch sử, đã trở thành một nơi cho chim chóc tụ tập. Sự lo lắng của Seoul về Bình Nhưỡng, nếu còn có lo lắng, cũng giảm bớt nhờ sự thiết lập một vùng mua bán tự do trong thành phố Kaesong của Bắc Hàn, nơi mà các xí nghiệp Nam Hàn sử dụng nhân công Bắc Hàn. Kể cả việc Bắc Hàn đánh chìm tàu Nam Hàn tháng 4 năm 2010 cũng không ảnh hưởng gì đến thương mãi ở Kaesong.

Nếu chế độ Bắc Hàn sụp đổ, người Seoul không mong đợi điều giống như làn sóng tị nạn tràn vào phía Tây khi Bức tường Berlin sụp đổ. Dù họ ngại nói ra, phần đông chỉ muốn người Bắc Hàn ở lại miền bắc trong trường hợp đó, ít nhất là đến khi kinh tế của hai bên hòa hợp với nhau hơn. Họ tưởng tượng đến cái gì đó tương tự như việc Trung quốc kết hợp Hồng Kông, một thành phố vẫn giữ các định chế của nó đóng kín bên trong biên giới.

Với dân số bùng nổ và thành phố bị giới hạn với địa lý, làm sao để chứa mọi người? Thị trưởng Oh có giải pháp bán phần: nhà chọc trời. Ngày nay nhà chọc trời thấy khắp nơi—căn nhà cao nhất là nhà Burj Khalifa ở Dubai, cao đến độ chóng mặt 2,717 feet. Nhưng viễn ảnh ông Oh vẽ ra cho Seoul cũng vẫn chưa có tiền lệ: vài tháp chọc trời như là các thành phố hàng dọc. Những tháp chọc trời này hiện đang được nghiên cứu ở Seoul, và một tháp, tên “Seould Lite”, hiện đang được xây dựng. Seoul Lite sẽ cao 2000 feet, với 133 tầng, trong đó có condominums, một khách sạn cao cấp, chỗ cho văn phòng, các trung tâm thương mãi, các nhà hát lớn, trường học, bệnh viện và các dịch vụ khác, tất cả trong một thành phố. Khoảng 20 ngàn người sẽ sống thường trực trong ngôi tháp này, và khoảng 50 ngàn người có mặt trong đó trong những ngày làm việc. Người Seoul có sẵn sàng để sống trong căn tháp hàng trăm tầng không? Hình như là có: những căn tháp này không phải là giấc mơ không tưởng của ông thị trưởng mà là các cuộc phiêu lưu của các doanh nghiệp tư nhân, thúc đẩy và quản lý bởi các Chaebols. Seoul Lite là một dự án của Daewoo; một tòa tháp khác phía nam sông Hàn, đã được công ty địa ốc Lotte đề nghị; và Samsung muốn xây một nhóm nhà cao ốc, với Daniel Libeskind làm kiến trúc sư lãnh đạo.

Những người bảo hộ Seoul Lite tuyên bố rằng các condos đang bán được rất nhanh và với giá cao hơn bất cứ nơi nào trong thành phố. Càng tốt hơn, ông thị trưởng nói, nếu tòa tháp này là “một kiến trúc xây dựng thần tượng, tòa tháp đầu tiên mà người ta thấy khi lái xe từ phi trường đi vào trung tâm thành phố.” Seoul Lite cũng sẽ rất hợp thời trang về môi trường, vì khoảng giữa trống rỗng của nó sẽ giúp không khí vận chuyển, làm giảm tiêu thụ năng lượng. (Dù là Seoul không bị ô nhiễm xấu ngày nay, người Nam Hàn rất hâm mộ phát triển xanh, nhìn nó như là một loại phiêu lưu thương mãi có triển vọng). Seoul Lite cũng sẽ làm giảm bớt kẹt xe trong thành phố: “Cư dân của Seoul Like sẽ có khuynh hướng không di chuyển nhiều, bởi vì rất nhiều dịch vụ đã có sẵn ngay nơi họ ở,” thị trưởng Oh nói với tôi. Thành phố đang tính xây các “đường xe điện trên không” để nối các tòa tháp với nhau, với trung tâm thành phố, và với phi trường Incheon.

Các tòa tháp và xe điện trên không sẽ thành sự thật không? Những người Nam Hàn thiên tả thường không thích Chaebol nào. Nhưng đây không phải là Bắc Hàn, có nghĩa là, như ông Oh nhận xét, “cuối cùng, thị trường sẽ quyết định.” Nếu Seoul chọn nhà chọc trời, ông ta tin rằng, thành phố sẽ trở thành kiểu mẫu cho các đại thành phố đang bùng nổ trên khắp các quốc gia đang phát triển. Và những công ty có tay trong các tòa tháp của Seoul sẽ muốn lập lại giấc mơ của họ trên khắp thế giới. Một viễn ảnh của dân cư ở Sao Paulo hay Jakarta lái xe Hyundai, xem tin tức trên các điện thoại thông minh của Samsung khi ngừng tại các đèn giao thông, và đi về căn nhà chọc trời do Nam Hàn xây, là một viễn ảnh rất Đại Hàn năm 2010. Và đó là tham vọng cùa những người dân tự do.

Asian Megacities, Free and Unfree
How politics has shaped the growth of Shanghai, Beijing, and Seoul

Author: Guy Sorman – City Journal (http://www.city-journal.org/2010/20_4_asian-megacities.html)
(Guy Sorman, a City Journal contributing editor, is the author of Economics Does Not Lie and many other books. He serves as an advisor to South Korean president Lee Myung Bak).

Shanghai’s glittering facade has yet to lure foreign investors away from Hong Kong. Stuart Franklin/Magnum Photos

Shanghai’s glittering facade has yet to lure foreign investors away from Hong Kong.
Urbanization on an extraordinary scale is happening in Asia, whose megalopolises are absorbing millions of new residents every year. Perhaps surprisingly, the character of these rapidly expanding cities reflects less their regions’ local traditions than the political conditions under which they have grown. A good example is Manila, possibly Asia’s most disorderly city, which gets bigger by the day, shantytown after shantytown. Despite Manila’s obvious vitality, the ancient Spanish-designed central city has degenerated into a seedy slum, in part because the Philippines has known only weak, crooked governments. No corruptly elected official cares about, say, saving a historic district or planning infrastructure adequately. In Manila, it’s everyone for himself—and this is true not just of the politicians but also of the wealthy elite, who have decamped to a vast gated community, called Makati, located nearer to the international airport than to the older Manila.

However, one finds the most striking evidence of how politics shapes the new Asian megalopolises in the differences between Seoul, South Korea’s capital, and China’s leading cities. After all, the Korean and Chinese cultures are similar. Both are founded on the hierarchical Confucian philosophy; both have been influenced by Buddhism. But Seoul is democratic, and the political debates of an open society have profoundly influenced its development. China’s cities, by contrast, reflect the autocratic and corrupt rule of the Communist Party.

Take Shanghai, China’s largest city, with a population of more than 19 million. Originally built by Europeans for Europeans, Shanghai has preserved some of the streets of its West-in-the-East past and boasts a lively, nearly tropical ambience that endears it to foreign visitors. But the Chinese government has, unsurprisingly, sought to transform the city into a glittering showcase of China’s rising power—above all, to lure foreign banks and investors away from Hong Kong. The tactic has yet to succeed: Hong Kong remains more attractive, though less because of its impressive buildings (Shanghai’s can compete in height, if not in architectural quality) than because of its commitment to the rule of law.

Shanghai is a “costly facade to maintain,” confesses Yan Hansheng, its deputy mayor for finance. The citýs primary financial resources are still its traditional factories, owned mostly by the government, which continue to grind out steel, cars, and textiles. These industries, located west of the city center, remain hidden behind the costly facade; few foreigners ever travel that far. To protect Shanghai’s gleaming appearance further, the government also keeps tight control over the population. Officials view the peasant migrants who work menial jobs in Shanghai as a stain on the Western-oriented city and prevent them from living there or sending their children to local schools. To live permanently in Shanghai, one must be born a Shanghai citizen. (The mother transmits citizenship—a system in effect throughout China.) There are some exceptions, based on merit—holding a university degree helps—or on securing a fake identity card. All other migrants who work in Shanghai, though, must return by night to the shantytowns or shoddy workers’ dormitories at the citýs periphery, far from the cosmopolitan city center.

The authoritarian Communist regime also shapes China’s capital city, though in a different way. Travelers to Beijing should not expect to find any traces of the ancient and beautiful imperial capital, whose debasement began immediately after the Communist revolution. In October 1949, from Tiananmen, the monumental gate leading to the imperial palace, Mao Zedong proclaimed the “liberation” of China and demanded that factory chimneys replace pagodas and temples. About 1,000 religious buildings, many of them hundreds of years old, were soon destroyed or transformed into belching factories. By the early 1960s, Beijing looked more like mid-nineteenth-century Birmingham than like the capital that European travelers had once nicknamed the “Holy City.” Unmoved by the pleas of some older scholars, Mao also demolished the walls surrounding Beijing, which had stood since the seventeenth century. The ostensible purpose was to ease traffic, but there were few cars in the city at the time.

In 1979, the Communist regime inaugurated a new era of reforms designed to bring China into the global economy. For Deng Xiaoping and his clique, Beijing’s factories didn’t look modern enough, so the regime closed them or relocated them to the citýs outskirts. But the reformers also completed Mao’s destruction of old Beijing. The old city was a maze of neighborhoods made up of one-story houses built around square inner courts and separated by narrow lanes, or hutongs. These traditional neighborhoods could have been saved or modernized, but the reformers razed them in the name of hygiene (the official motive) and real-estate speculation (the real motive), erecting huge office towers in their stead. The hutong dwellers were moved to shoddily built, city-owned shoeboxes on the citýs edge, where rent is cheap but modern amenities like elevators and proper heating are often lacking. The government is now rebuilding a few of the original hutongs, characteristically seeking to please tourists in search of the authentic Beijing.

The office towers that give Beijing its contemporary sheen made the landowners—the Party and the military establishment—rich. But they also made the city ugly, since they were built hastily and with no concern for appearance. As a concession to history, some new buildings will incorporate a touch of the past—a traditionally tiered roof, say, or upturned eaves at the top of a high-rise—but these combinations tend to be incoherent. Here, too, a facade is in place. One-third of the office buildings remain empty because speculation outran the needs of the market.

Hoping to improve its undistinguished and often ugly cityscape before the 2008 Olympics, Beijing officials brought in some big-name architects from around the globe. The Netherlands’ Rem Koolhaas designed a new office for China Central Television; the Swiss firm Herzog and de Meuron constructed an Olympic stadium (the Bird’s Nest, as it is known colloquially); the Frenchman Paul Andreu produced an opera hall, the National Grand Theater. Yet the buildings, whatever one thinks of them aesthetically, could stand anywhere in the world and bear no relation to China’s culture or traditions. (If the Chinese didn’t want his egg-shaped opera hall, Andreu said, he would sell it to Canada.) Like the office towers, these expensive international trophies are absurdly underused. The Beijing opera currently has no program—the city is a cultural void—and the Olympic stadium has idled since the end of the games.

Where Beijing’s walls once stood, roads now encircle the city. One road was constructed, and then another as the population grew, and then more. Today, seven concentric highways loop the city of 10 million. Ask a Beijing resident where he lives, and you might hear: “Somewhere between the sixth and seventh circular road.” “Beijing is more modern than Paris,” the citýs then-mayor told me some years back. “You have just one circular freeway. We have seven!” The roads are choked with nightmarish traffic (cars are no longer scarce in Beijing) under a hazily polluted sky.

Beijing is not a friendly city. There are few places to walk and almost no parks. It sometimes seems as if the city wants to fill its every void with concrete to the maximum possible height. Stand-alone shops are rare, since they take up too much space; malls have replaced most of them. As oppressive as the city feels, the police presence is not that visible. Chinese subjects know that any lawbreaker will face serious punishment, which makes the countrýs urban areas safe.

As in Shanghai, and with the same legal rationale, the authorities deny rural migrants access to Beijing’s better neighborhoods. And this April, the Beijing government added another layer of control to prevent migrants from spending too much time in the city: “sealed management.” In 16 villages in Beijing’s southern suburbs, where most residents are migrants, iron gates slam shut at night and lock the population in, except for those with special permits for night labor. The local Communist Party authorities claim dubiously that “80 percent of the residents applaud this practice, which increases security.” China’s strong prejudices against the poor—reinforced by government discrimination—have also increased the popularity of American-style gated communities for the wealthy. These communities, never too far from the airport, usually have easy access to golf courses.

Beijing is a dead city after 8 PM, with the exception of a few streets reserved for the nightclubbing of the golden youth—the sons and daughters of the ruling elite. The young and wealthy make no effort to hide their money. One finds in Beijing’s core a concentration of luxury shops, dedicated to fancy cars and high fashion, whose customers are mostly these twentysomething Chinese, dubbed “young princes” by the less affluent.

All that remains of old Beijing is the imperial palace, also known as the Forbidden City. During the late 1960s, when I had the privilege of visiting it, the Forbidden City dominated Beijing. Nowadays, tall office buildings surround it, so that it seems to be sinking into the new city. True, the Forbidden City wasn’t in perfect condition 40 years ago, but the restoration work done on it since then has sometimes been sloppy—garish red concrete beams have replaced wooden ones, for example. American visitors may or may not be pleased to discover a Starbucks there.

Seoul, only two hours by plane from Beijing, was also an imperial city until Japan conquered it in 1910. Not much remains of the old Seoul, either, though what destroyed it was not revolution but the Korean War. The city changed hands three times between 1950 and 1953. The former king’s palace and its extraordinary gardens survived, as did the city hall and the main railway station, built in the Japanese “imperial” style of the twenties. Little else escaped intact.

Old Seoul was located north of the Han River; the modern city has expanded to the southern side as well. Though the mountains that ring Seoul limit sprawl, they haven’t prevented a huge population influx. Since the war ended, Koreans by the millions have flooded from the countryside into the city. The authoritarian South Korean governments of the sixties and seventies, free-market and growth-oriented, welcomed this vast group of peasants seeking work, as did the big private conglomerates—the chaebols—that have driven South Korea’s economic expansion.

After three decades of spectacular economic growth—roughly 10 percent a year—under the rule of generals, South Koreans started looking for a better, freer life. In 1993, civil demonstrations forced the military out of power, and democracy swept the country at both the local and national levels. Today, Seoulites elect their mayor, city council members, and 25 district mayors. As in any real democracy, divided government is not unknown. Since the June 2010 election, a conservative, Oh Se Hoon, has held the Seoul mayoralty, while the Left dominates the city council.

Democratization has helped transform Seoul into a more livable city in an extraordinarily short time. Before democracy, the authorities pursued economic growth at virtually any cost: real estate operated with little constraint, the number of private cars swiftly exceeded street capacity, public transportation was shoddy, and public spaces were basically nonexistent. But Seoul’s mayor during the 2000s, Lee Myung Bak—formerly the CEO of the Hyundai Construction Company—understood that Seoulites wanted a city center, plazas, gardens, and spaces to shop and stroll, and he led a dramatic reshaping of the city, preserving what was left of the past but making huge improvements in urban amenities. He won the nickname “Bulldozer” for good reason. Among the projects undertaken while he was mayor: the Han’s banks, formerly devoted to parking garages and freeways, became accessible to pedestrians; an ancient stream, the Cheonggyecheon, which once flowed through Seoul until buried by a freeway, was restored, helping vivify the central city; and rapid-transit buses joined the citýs transportation system. During his mayoralty, too, formerly abandoned industrial areas transformed into gentrified neighborhoods, Korean versions of New York’s Meatpacking District. These popular changes helped propel Lee Myung Bak to the South Korean presidency in December 2007.

Nearly all younger Koreans want to move to this exciting city, looking for better jobs, better schools, and more fun. Recently built high-speed trains connecting the provinces to the capital have accelerated the urbanization: young couples can move to Seoul but still visit their parents in the provinces on weekends, and thus avoid the sadness of leaving their families completely behind. According to Mayor Oh, if you include the population of neighboring cities like Incheon, which holds the international airport, the Seoul area is home to 25 million people, half of South Korea’s total population. He expects “10 million or more” to join the urban influx over the next decade. This isn’t China: South Koreans live where they want, freely renting and buying.
With so many young people, Seoul’s nightlife throbs: cafés, theaters, and cultural centers crowd every city district. The central city is particularly popular, with its narrow streets, low houses, and maze of restaurants and art galleries. Fashionistas are everywhere. Korean women, less flashy than the wealthy Chinese, lean toward classic Parisian-style fashion or contemporary interpretations of ethnic Korean dresses and fabric.

Seoul is unusual among Asian cities for the diversity of its cultural life, from pop confections exported across Asia (sitcoms and rock bands boast millions of Chinese and Japanese fans) to sophisticated contemporary art. Seoul artists, directors, and designers are noted for their ability to link traditional Korean culture with avant-garde techniques. (The well-known video artist Nam June Paik, for example, made Buddhist-mandala-like sculptures out of discarded Samsung television sets.) In Seoul, as in New York and Berlin, one feels the pulse of a democratic society. There is a bit of national pride as well, directed at Japan, Korea’s former colonizer, and at China, the giant next door.

All this cultural ferment, of course, takes place in the shadow of totalitarian North Korea, only 30 miles from downtown Seoul. Yet North Korea does not haunt Seoulites’ way of life. I remember a different mind-set a few decades ago, pre-democracy. North Korea looked more threatening at the time; many rebellious Seoul students would have supported it against the South Korean military leadership; plenty of Seoulites still had family connections up north. Today, only a few leftist Seoul intellectuals wax nostalgic about Pyongyang. For most South Koreans, North Korea is neither dreamland nor nightmare. It has vanished from their concerns, seemingly as far away as the moon; it is a place you watch on television, not a neighbor you fear or a distant cousin.

Foreign tourists still visit the border, famously known as the demilitarized zone, or DMZ; at the village of Panmunjom, they watch the North Korean military marching near the armistice line, only yards away from American soldiers on the other side. Seoulites seldom drive to the DMZ, though, and when they do, it will often be for picnicking, since the area has become, by historical accident, a bird haven. Seoul’s anxieties about North Korea, to the extent any remain, have also been eased by the creation of a free-trade zone in the North Korean city of Kaesong, where South Korean factories employ North Korean workers. Even North Korea’s sinking of a South Korean ship in April 2010 did not have an effect on Kaesong’s business.
Should the North Korean regime collapse, Seoulites don’t expect anything like the wave of refugees that surged into the West after the fall of the Berlin Wall. Though they hesitate to say it, most would prefer North Koreans to stay up north in such a case, at least until the countries’ economies are more in sync. They imagine something akin to China’s annexation of Hong Kong, a city that retains its institutions behind a sealed border.

With Seoul’s population burgeoning and the city limits restrained by geography, where to put everyone? Mayor Oh’s partial solution: skyscrapers. Tall buildings are everywhere these days—the tallest of all being the Burj Khalifa in Dubai, rising to a dizzying 2,717 feet. But what Oh envisions for Seoul is nevertheless unprecedented: several huge towers that would effectively be vertical towns. Three of these tower projects are currently planned for Seoul, with one, “Seoul Lite,” already under construction. Seoul Lite will be 2,000 feet tall, with 133 floors; it will hold condos, a luxury hotel, office space, malls, concert halls, schools, health-care facilities, and other services, all in one building. About 20,000 people are expected to live permanently in the tower, with as many as 50,000 occupying it during the workday. Are Seoulites ready to live on the hundredth floor of a tower? It seems so: these towers aren’t the mayor’s utopian dream but private business ventures, driven and managed by chaebols. Seoul Lite is a Daewoo project; another tower, south of the Han, has been proposed by the Lotte real-estate firm; and Samsung wants to build a cluster of tall buildings, with Daniel Libeskind as lead architect.

Seoul Lite’s sponsors claim that its condos are selling briskly and at higher prices than anywhere else in the city. It may help, the mayor says, that the building will be “an iconic construction, the first tower one will see when driving from the airport to the central city.” Seoul Lite will be trendily ecological, too, since its hollow center will encourage air circulation, reducing energy costs. (Though Seoul isn’t suffering from bad pollution these days, South Koreans are enthusiastic about green development, seeing it as a promising business venture.) Seoul Lite could also ease traffic congestion in the city: “Its residents will tend not to move around so much, since so many services will be available right where they live,” Oh tells me. The city plans to build elevated “sky trains” to connect the towers with one another, with the downtown area, and with the Incheon airport.

Will the towers and sky trains actually materialize? The Korean opposition on the left generally isn’t enamored with any chaebol enterprise. But this isn’t North Korea, which means, as Oh observes, that “eventually, the market will decide.” If Seoul does opt for the skyscrapers, he believes, the city could become a model for the booming megalopolises of the developing world. And the firms behind Seoul’s proposed towers would like to replicate their dream globally. A vision of São Paulo’s or Jakarta’s citizens driving Hyundais, watching news broadcasts at traffic lights on Samsung smartphones, and on their way home to Korean-built sky towers is typically Korean in 2010. And it is the ambition of free citizens.

Một suy nghĩ 4 thoughts on “Những đại thành phố Á Châu, Tự do và Không tự do: Chính trị đã nhào nắn sự trưởng thành của Thượng Hải, Bắc Kinh và Seoul thế nào”

  1. Em cám ơn anh Hoành đã dịch một bài thú vị.

    Đọc bài này xong, em thấy:

    Chính trị độc đoán và tham nhũng của đảng cầm quyền ở Thượng Hải và Bắc Kinh đã tạo nên những thành phố có mặt nạ lóng lánh. Sự kỳ thị người nghèo cũng rõ nét ở những nơi này.

    Còn chính trị dân chủ và tự do ở Seoul đã tạo nên một thành phố rộng mở và phát triển.

    Người Nam Hàn đã có một đời sống tốt hơn và tự do hơn từ năm 1993, khi dân chúng biểu tình đẩy quân đội ra khỏi quyền lực, và “dân chủ tràn khắp đất nước cả ở trung ương lẫn địa phương”.

    Em cám ơn anh.

    Số lượt thích

  2. Cám ơn Thu Hương nhắc lại bài này.

    Các chế độ độc tài thường chỉ có cái vỏ. Sự thực là các chế độ độc tài sẽ từ từ biến thành dân chủ hoặc sụp đổ để được thay thế bằng chế độ dân chủ.

    Vấn đề rất dễ hiểu: độc tài thì đè dân xuống để ngồi trên đầu dân. Nhưng đè như thế được bao lâu? Một lúc nào đó quyền làm chủ của dân phải trả lại cho dân, không cách này thì cách kia.

    Đâu có thể dùng bạo lực để đàn áp nhân dân được, đó là crime against humanity trong công pháp quốc tế.

    Số lượt thích

  3. Vâng. Em đồng ý với anh.

    Nền chính trị nào dù có lý thuyết tràn đầy lý tưởng công bằng, bác ái nhưng khi áp dụng mà làm dân phải đổ máu và nước mắt, thì nền chính trị đó sẽ sụp đổ. Lịch sử đã chứng minh điều đó (với Trung quốc, đó là một lịch sử đã 5000 năm).

    Nguyễn Trãi đã viết trong bài Bình Ngô đại cáo rằng: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Nếu lãnh đạo dùng bạo lực để cưỡng bức dân thì một lúc nào đó, dân sẽ đưa một lãnh đạo khác để dẫn dắt dân. Và đường lối đó, dù lý thuyết là nhân nghĩa thì cũng không phải là nhân nghĩa. Nếu lãnh đạo chăm lo cho dân, làm lòng dân được yên thì đường lối đó là nhân nghĩa.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s