Thế nào là đại học hàng đầu thế giới?

(Kỳ 1) Sứ mệnh của trường đại học

Dương Phúc Gia
(Hiệu trưởng trường ĐH Nottingham Anh Quốc)

GS Dương Phúc Gia.
Những năm gần đây, GS Dương Phúc Gia, người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc (ĐH Nottingham), đã nhiều lần thẳng thắn phát biểu về sự yếu kém của giáo dục đại học Trung Quốc, được lãnh đạo nhà nước và giới chuyên môn rất quan tâm.
Dưới đây là phần lược dịch bài viết “Sứ mệnh và nội hàm văn hoá của trường đại học” của Dương Phúc Gia, đăng trên Thời báo Học tập số ra ngày 27/8/2007.

Bài này gồm 5 phần: – Sứ mệnh của trường ĐH; – Nội hàm văn hóa ĐH; – Gợi ý từ ĐH hàng đầu; – ĐH hàng đầu coi trọng những sinh viên như thế nào; – Trách nhiệm của sinh viên. Các phần ghi trong dấu ngoặc vuông là của người dịch.

I. SỨ MỆNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1. Sứ mệnh của trường đại học là gì?

ĐH Yale thuộc nhóm ĐH đứng đầu thế giới, liên tục mấy năm liền xếp thứ 3 trong bảng xếp hạng ĐH Mỹ, chỉ sau ĐH Princeton và ĐH Harvard. ĐH Yale thành lập năm 1701, hiện nay có 11.483 học viên, trong đó có 5.316 sinh viên (ở Học viện Yale) và 2.522 nghiên cứu sinh, 3.552 sinh viên các học viện chuyên ngành (ở 11 học viện, như Học viện Y khoa, Học viện Luật, Học viện Nhạc, v.v… đều tuyển người đã tốt nghiệp ĐH).

Sứ mệnh của ĐH Yale là gì? Điều đó đã được xác định ngay từ khi sáng lập trường, đó là: Đào tạo thủ lĩnh cho nhà nước và thế giới.

ĐH Yale là nơi đào tạo 5-6 Tổng thống Mỹ (Bush cha và con, Clinton …). Cho tới nay Yale đã đào tạo được 530 nghị sĩ quốc hội Mỹ, còn đào tạo cả Tổng thống cho Mexico và Đức, Thủ tướng cho Hàn Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao cho Nhật Bản v.v…. Rất nhiều hiệu trưởng xuất sắc của các ĐH hàng đầu thế giới từng tốt nghiệp tại đây.

Về sau ĐH Yale còn đưa ra các sứ mệnh cơ bản của trường: Bảo vệ, truyền thụ, đẩy mạnh và làm phong phú tri thức và văn hoá.

Thoạt xem có thể có cảm giác tựa như các sứ mệnh đó chỉ là một đống từ ngữ, nhưng suy ngẫm kỹ sẽ có thể hiểu, nếu sứ mệnh chỉ có “truyền thụ tri thức” thì điều đó đều thích hợp với ngót 4000 ĐH Mỹ; nếu thêm “đẩy mạnh và làm phong phú” thì chỉ 3% số trường ĐH có thể đảm đương được nhiệm vụ đó; nếu lại thêm “văn hoá” nữa thì chỉ còn 1%; còn nếu thêm “bảo vệ tri thức và văn hoá” thì e rằng chưa tới 3 phần nghìn.

ĐH Yale có thư viện sách quý hiếm tốt nhất thế giới chính là để gánh vác sứ mệnh đó. Chẳng hạn chỉ ở đây mới có một số sách hoặc tư liệu độc bản trên thế giới.

Tóm lại, sứ mệnh của trường ĐH phải có tính đặc thù, tính khác biệt. Nếu sứ mệnh của ĐH này lại có thể dùng cho bất cứ ĐH nào khác thì cách diễn tả sứ mệnh đó sẽ không xác đáng lắm..

Học viên Công nghệ California [California Institute of Technology, viết tắt Caltech hoặc CIT] là một học viện đơn nhất, nhưng nó nghiên cứu những vấn đề KHKT cơ bản có tính thách thức nhất trong sự giao thoa của các khoa học. Nó đào tạo một loạt sinh viên kiệt xuất trở thành những thành viên có tính sáng tạo trong xã hội. Ở đây tuy không đề cập tới văn hoá ĐH, nhưng không có nghĩa là Caltech không có văn hoá, chỉ có điều nó chú trọng tới cái khác.

Caltech không được gọi là ĐH mà gọi là Học viện [institute], quy mô rất nhỏ. Năm 2005 toàn trường có 386 giáo viên và nghiên cứu viên, 2.172 sinh viên và nghiên cứu sinh. Khi mới thành lập trường này, Hội đồng Quản trị nhà trường đã quy định: “Dù ai làm hiệu trưởng cũng không được mở rộng quy mô nhà trường”. Caltech có sứ mệnh “Kết hợp giảng dạy và nghiên cứu khoa học để mở rộng tri thức nhân loại và đem lại hạnh phúc cho xã hội”.

Chính là dưới ảnh hưởng của nội hàm văn hoá như thế mà tại Caltech xuất hiện 32 giải Nobel, 31 chủ nhân giải Nobel, có đóng góp lớn làm phong phú kho tàng tri thức của loài người. Ngoài 32 giải Nobel, còn có nhiều cựu sinh viên kiệt xuất, trong đó có Chu Bồi Nguyên, nhà nguyên lão vật lý học của Trung Quốc (tiến sĩ Caltech năm 1928), Triệu Trung Nghiêu người đặt nền móng ngành vật lý hạt nhân Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1930), Đàm Gia Trinh người đặt nền móng di truyền học Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1936), Tiền Học Sâm nhà khoa học nổi tiếng Trung Quốc (tiến sĩ Caltech 1939) [cha đẻ tên lửa Trung Quốc]. Tất cả các vị đại sư đó đã đặt nền móng cho địa vị của Caltech trên thế giới. Trên 3 lĩnh vực hàng không-vũ trụ, khoa học sự sống và vật lý, Caltech là hàng đầu của hàng đầu thế giới. Trường nhỏ mà học vấn lớn, thật là đặc sắc!

2. Các yếu tố cơ bản để hoàn thành sứ mệnh của trường đại học.

Ngay từ năm 1931, ông Mai Di Kỳ hiệu trưởng ĐH Thanh Hoa từng nói “Một trường ĐH sở dĩ gọi là ĐH, tất cả là ở chỗ trường ấy có giáo sư giỏi hay không.”

Ông nói câu này vào thời điểm ĐH Thanh Hoa vừa cơ bản xây dựng xong, nhà trường bắt đầu đặt trọng điểm vào việc thu hút các đại sư chứ không quá chú ý tới việc xây dựng trường sở.

Thực ra một trường ĐH chỉ có trường sở to và đại sư thì chưa đủ. Cá nhân tôi cho rằng còn phải có “đại ái [tình yêu lớn]”.

Từ bài viết của chủ nhân giải Nobel James Tobin [Nobel kinh tế 1981], ông Richard C. Levin hiệu trưởng ĐH Yale dẫn ra mấy yếu tố cơ bản để thực hiện sứ mệnh của ĐH như sau: Thứ nhất, phải có tài sản hữu hình (tangible assets); thứ hai, phải có tài nguyên con người (human resources); thứ ba, phải có nội hàm văn hoá (internal culture).

Tài sản hữu hình không chỉ gồm có trường sở mà còn có thiết bị, thư viện. Cũng vậy, tài nguyên con người cũng không chỉ có đại sư mà còn có sinh viên và nhân viên quản lý. Một ĐH không có sinh viên giỏi thì không thể trở thành ĐH hàng đầu được.

3. Trường ĐH sứ mệnh không rõ ràng, không có đặc sắc thì sẽ không có triển vọng

ĐH Princeton 7 năm liền xếp hạng ĐH thứ nhất ở Mỹ. ĐH Harvard 3 năm qua cũng đồng xếp hạng thứ nhất nhưng lần gần đây lại tụt xuống thứ hai, nguyên nhân do Princeton có hai chỉ tiêu vượt trên Harvard. Thứ nhất, số lượng lớp nhỏ dưới 50 sinh nhiều hơn; thứ hai, số lượng cựu sinh viên đền ơn nhà trường nhiều hơn Harvard (không chỉ là tiền, mà nhiều hơn, là sự cảm ơn).

Có người cho rằng ĐH hàng đầu thì phải có số lượng nghiên cứu sinh nhiều hơn sinh viên, nhất định phải có học viện y khoa, nhất thiết phải là ĐH có tính tổng hợp. Nói như vậy không thích hợp với ĐH Princeton – trường này hiện chỉ có 6.677 học sinh, trong đó 4.678 sinh viên, 1999 nghiên cứu sinh. Năm 2006, ĐH Princeton chỉ trao tặng có 277 học vị tiến sĩ, 151 học vị thạc sĩ cuối cùng (không học tiếp); tỷ lệ học sinh với giáo viên (chế độ cả ngày) là 5:1; trường này không có học viện y khoa cũng như học viện luật và học viện quản trị kinh doanh (hiện nay ở Trung Quốc các ĐH hàng đầu hầu như đều có học viện quản trị kinh doanh, y khoa và luật khoa); nghiên cứu sinh chỉ chiếm 30% tổng số học sinh.

Nhưng ĐH Princeton tuyệt đối là ĐH đứng đầu thế giới. Vậy đâu là cái vĩ đại của ĐH Princeton?

Ngoài việc đào tạo 25 chủ nhân giải Nobel (trong đó 17 giải vật lý) và 12 chủ nhân giải Fields (cả nước Mỹ có 24 người được giải này), ĐH Princeton còn nổi tiếng về không khí học thuật tự do, khoan dung.

Rất nhiều trường ĐH Trung Quốc thiếu những đặc sắc như vậy. Trong 4 lần hội nghị giáo dục cao đẳng do Thủ tướng Ôn Gia Bảo triệu tập trong năm 2006, Thủ tướng có nói về 4 nỗi lo của ông: Thứ nhất, sở dĩ hiện nay Trung Quốc chưa hoàn toàn phát triển trong đó có một nguyên nhân là chưa có một ĐH nào có thể tổ chức theo mô hình đào tạo nhân tài phát minh sáng tạo KHKT, chưa có sự sáng tạo độc đáo của mình thì không thể đào tạo được nhân tài kiệt xuất cấp đại sư. Thứ hai, vấn đề chất lượng học tập của các trường ĐH cao đẳng; Thứ ba, vấn đề làm thế nào để trường ĐH có đặc sắc của mình. Thứ tư, các trường công ở Trung Quốc đã vay bao nhiêu tiền? 300 tỷ, 400 tỷ hay là 500 tỷ Nhân dân tệ?

Dương Phúc Gia (Yang Fu-jia, 1936-), tốt nghiệp ĐH Phục Đán (Thượng Hải), nhà vật lý nổi tiếng, Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc, Phó Chủ tịch Hội KHKT Trung Quốc, Chủ tịch Hội KHKT Thượng Hải (1992-1996), Giám đốc Viện Nghiên cứu hạt nhân nguyên tử Thượng Hải thuộc Viện KH Trung Quốc (1987-2001).  

Năm 1984 được bình chọn là chuyên gia có cống hiến kiệt xuất cấp nhà nước.

Năm 1991 được bầu là Viện sĩ Viện KH Trung Quốc, Viện sĩ Viện KH thế giới thứ ba.

Từ 1998 được mời làm GS danh dự ĐH Vanderbilt (Mỹ). Ông cũng là Tiến sĩ KH danh dự ĐH Sōka (Nhật), Tiến sĩ Nhân văn danh dự ĐH bang New York, Tiến sĩ danh dự ĐH Hồng Công, ĐH Nottingham (Anh), và ĐH Connecticut (Mỹ). Dương Phúc Gia từng là Hiệu trưởng ĐH Phục Đán (1993-1998), từ 1996 là Ủy viên chấp hành Hội Hiệu trưởng các trường đại học trên thế giới.

Từ năm 2001 ông được mời làm Hiệu trưởng ĐH Nottingham (hai nhiệm kỳ liền), trở thành người Trung Quốc đầu tiên nhậm chức hiệu trưởng một trường ĐH nổi tiếng Anh Quốc.

(Còn tiếp)
Huy Đường lược dịch
Dương Phúc Gia
(Hiệu trưởng trường ĐH Nottingham Anh Quốc)

Khẩu hiệu của ĐH Harvard chỉ có
một từ: Veritas (chân lý, sự thật).
Trong phần II bài viết, GS Dương Phúc Gia nhấn mạnh, văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, theo đuổi sự thật, tôn thờ tự do học thuật, và có tinh thần phê phán quyết liệt.

1. Thế nào là văn hoá đại học?
 

Trường đại học không chỉ là tồn tại vật chất khách quan mà còn là một dạng tồn tại văn hoá và tinh thần. Tồn tại vật chất của ĐH rất đơn giản: thiết bị, dụng cụ, trường sở v.v… Thế nhưng đại học sở dĩ gọi là đại học, mấu chốt là tồn tại văn hoá và tồn tại tinh thần của nó.

Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, là văn hoá nghiêm chỉnh coi trọng thực tế, là văn hoá theo đuổi sự tìm kiếm lý tưởng và hoài bão của đời người, là văn hoá tôn thờ tự do học thuật, văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế, văn hoá tôn thờ đạo đức, văn hoá bao dung, là dạng văn hoá có tinh thần phê phán quyết liệt. Văn hóa đại học thể hiện một tính chung, cốt lõi và linh hồn của nó thì thể hiện ở tinh thần đại học.

Lời răn của nhà trường [nguyên văn chữ Hán Việt: “Hiệu huấn”; còn gọi là Khẩu hiệu truyền thống của nhà trường] là thứ tượng trưng cho tinh thần đại học, đó là kết tinh lịch sử và văn hoá nhà trường, là thể hiện tập trung ý tưởng tổ chức học tập của nhà trường, cũng là một biểu đạt ngắn gọn nội dung văn hoá riêng của nhà trường.

Một tờ báo từng tiến hành trưng cầu ý kiến của 4762 người với câu hỏi: “Bạn cho rằng trường đại học nào của Trung Quốc có khẩu hiệu truyền thống tốt nhất?” Kết quả, khẩu hiệu truyền thống của ĐH Thanh Hoa “Tự cường bất tức, hậu đức tải vật” [câu này lấy từ sách Kinh Dịch, ý nói yêu cầu học sinh mãi mãi phấn đấu tự cường tiến lên hàng đầu, có tinh thần đoàn kết hợp tác, nghiêm khác với bản thân, vô tư dâng hiến] được 54% số phiếu, xếp thứ nhất. “Tự cường bất tức” phản ánh tinh thần dân tộc Trung Hoa, câu này cũng được rất nhiều đại học Trung Quốc dùng làm khẩu hiệu truyền thống của mình.

Năm 2006 khi nói chuyện tại ĐH Yale, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cũng dẫn câu “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” [Đạo trời vận hành mạnh mẽ vững bền, kẻ quân tử nên tự giác phấn đấu vươn lên không ngừng] [1] danh ngôn lưu truyền muôn đời này của Trung Quốc nhằm trình bày tinh thần tự cường không ngừng, khai phá sáng tạo bao năm của dân tộc Trung Hoa. 5.000 năm qua, sở dĩ dân tộc Trung Hoa đời đời không ngừng phấn đấu, trải bao trắc trở mà không bị khuất phục chính là nhờ dựa vào tinh thần quyết tâm vươn tới hùng cường, dung nạp bao quát tất cả các mặt, ngày càng tiến lên. Mọi thành tích giành được từ cải cách mở cửa tới nay cũng là sự khắc họa tinh thần đó.

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Phục Đán “Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư” [Người có lý tưởng cao xa thì phải có trí thức phong phú, phải luôn nghi ngờ đặt câu hỏi và luôn suy nghĩ sâu sắc] [2] được xếp hạng thứ hai. Giáo sư Lý Chính Đạo [Nobel vật lý 1957 cùng Dương Chấn Ninh] đặc biệt thích chữ thứ hai trong mỗi câu trên: họcvấn (hỏi). Học hỏi [chữ Hán: học vấn] tức là phải hỏi vấn đề chứ không phải là trả lời vấn đề.

Thế nhưng tôi phát hiện ra sự khác biệt văn hoá rất lớn giữa nước ta với phương Tây. Phụ huynh các nước Anh, Mỹ thấy con đi học về đều hỏi: “Hôm nay con hỏi được mấy vấn đề?” Còn ở ta, phụ huynh hỏi: “Hôm nay con được mấy điểm?”

Có lần tôi thấy một người đến cơ quan làm việc với vẻ mặt rất không vui, tôi hỏi: “Hôm nay ông sao thế? ” Ông ta trả lời: “Tôi đang tức điên người vì con bé nhà tôi thi được có 99 điểm”. Tôi bảo: “Tôi làm ngành vật lý cho nên biết là theo lý thuyết sai số, kém 1 điểm vẫn đạt trình độ quốc tế đấy ạ”. Ông ta nói: “Kém 1 điểm liệu có thể được vào ĐH Phục Đán chăng?” Tôi chẳng biết nói gì nữa. Chế độ thi cử của chúng ta hiện nay rất nghiêm ngặt, điều đó có ảnh hưởng sâu sắc tới văn hoá ĐH của chúng ta.

Einstein từng nói: “Tôi không có tài năng gì đặc biệt cả, chẳng qua là thích hỏi cho ra nhẽ mà thôi”. Teller cha đẻ bom khinh khí Mỹ mỗi lần đến phòng thí nghiệm đều đặt ra các câu hỏi này nọ, mỗi ngày ít nhất ông nêu ra 10 vấn đề, nhưng thường thường có 8-9 vấn đề sai. Có điều cái sáng tạo vĩ đại của ông lại chính là ở 1-2 vấn đề đúng kia. N. Bohr, một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất thế kỷ XX từng nói: “Không có câu hỏi nào ngu ngốc cả”.

2500 năm trước đây loài người đưa ra câu hỏi “Thế giới cấu tạo như thế nào”, – câu hỏi này đánh dấu sự khởi đầu của khoa học tự nhiên. Bởi vậy, các bạn trẻ cần dũng cảm nêu vấn đề, không nêu ra được vấn đề thì sẽ không có sáng tạo. Điều này nên trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong nội dung văn hoá ĐH của chúng ta.

2. Văn hóa đại học là văn hoá tìm kiếm chân lý, nghiêm chỉnh theo đuổi sự thật

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Harvard chỉ có một từ: Truth (chân lý, sự thật; có người dịch là Hãy để sự thật kết bạn với ta). Theo đuổi chân lý mà không mê tin quyền uy. Văn hóa ĐH là văn hoá theo đuổi chân lý, nghiêm chỉnh tìm kiếm sự thật.

Cách đây không lâu tôi có gặp ông hiệu trưởng Harvard vừa mới từ chức. Ông ấy kể là khi ông còn làm hiệu trưởng, có một sinh viên mới vào trường này bảo ông: “Em luôn luôn theo dõi các số liệu của thầy, trong đó có các số liệu sai đấy ạ”. Một sinh viên mới toanh mà có thể bảo thầy hiệu trưởng “Thầy sai rồi”, – đó là văn hoá của ĐH Harvard: ý tưởng thắng quyền uy. Trường ĐH nào có được văn hoá như thế thì trường ấy có thể trở thành đại học hàng đầu thế giới.

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale là Light and Truth (Ánh sáng và chân lý). Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006 , Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nói: “Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Yale nhấn mạnh sự theo đuổi ánh sáng và chân lý, điều đó phù hợp với phép tắc tiến bộ của loài người, cũng hợp với tâm nguyện của mỗi thanh niên có chí hướng”.

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Washington là “Qua chân lý giành lấy sức mạnh”.

Các khẩu hiệu nói trên đều sử dụng từ chân lý.

Thế nhưng trong các đại học ở nước chúng ta hiện nay lại xuất hiện rất nhiều chuyện gian lận giả dối: hiện tượng dối trá cấm mãi chẳng được, gian lận học thuật thường xuyên xảy ra, các thông tin khai báo dối trá lừa gạt v.v…

Hồi tôi làm hiệu trưởng, việc khiến tôi xấu hổ nhất là gì, các bạn biết không? Là nhận được công văn của các trường đại học bên Mỹ yêu cầu tôi chứng minh bản khai thành tích học tập của các sinh viên Trung Quốc bên ấy họ nhận được là thật hay giả – đây là công văn chuyên gửi sang hỏi Trung Quốc. Ngoài ra còn có chuyện sinh viên Trung Quốc không xin được thẻ tín dụng. Khi sang Anh Quốc, tôi cảm thấy rất tự hào vì tôi là người Trung Quốc đầu tiên được đội mũ vành mạ vàng của nước Anh, nhưng chẳng bao lâu tôi cảm thấy mình thẹn đỏ cả mặt vì có sinh viên Trung Quốc nói với tôi: “Chúng em lxin ngân hàng Anh Quốc cấp thẻ tín dụng nhưng họ không duyệt, vì học sinh Trung Quốc nhiều lần có hạnh kiểm xấu [ý nói có hành vi gian lận trong sử dụng thẻ tín dụng] cho nên họ nhất luật không cấp thẻ tín dụng”.

Ngày hội nhà giáo năm 2005, Thủ tướng Ôn Gia Bảo trích dẫn câu nói của Đào Hành Tri “Dạy muôn nghìn lần, dạy người tìm kiếm sự thực thà; học muôn nghìn lần, học làm người thực thà” [3]. Sở dĩ Thủ tướng chú trọng câu này, tôi cho rằng điều đó có liên quan tới chuyện hiện nay chúng ta thiếu văn hoá theo đuổi chân lý.

3. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tự do học thuật 

Khẩu hiệu truyền thống của Học viện Caltech “Chân lý làm con người được tự do” chính là sự thể hiện thứ văn hoá đó.

Hiệu trưởng ĐH Yale nói: “Chỉ có tự do khám phá, tự do biểu đạt thì mới có thể thực sự khai thác được tiềm năng của nhân loại”.

Trong buổi gặp gỡ tâm sự với các nhà văn học nghệ thuật ngày 13/11/2006, Thủ tướng Ôn Gia Bảo chín lần nhấn mạnh tự do. Ông còn dẫn lời Marx và Engels viết trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người” Thủ tướng nói đến tự do trong trường hợp như trên, tôi cảm thấy điều đó có ý nghĩa rất sâu sắc.

4. Văn hóa đại học là văn hoá đề xướng lý luận gắn với thực tế

Học viện Công nghệ Massachusetts tôn thờ phương châm lý luận gắn liền với thực tế. Khẩu hiệu truyền thống của trường này là “Suy nghĩ và bắt tay vào làm” (Mind and Hand).

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Nottingham “Đô thị xây dựng bằng trí tuệ”, dùng ngôn ngữ hiện đại giải thích là “Trường đại học là động cơ của tăng trưởng kinh tế”. Một đô thị muốn trở thành đại đô thị quốc tế hóa thì phải có hậu thuẫn là trường đại học hàng đầu. Trường đại học đem lại cho đô thị không những sự nhảy vọt về vật chất và kinh tế mà còn đem lại sự nâng cấp về văn minh tinh thần và tu dưỡng văn hoá.

5. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ đạo đức

Nói tới đạo đức, ngôi trường đại học có ý nghĩa đích thực đầu tiên của nước Mỹ – ĐH Pennsylvania – có câu khẩu hiệu truyền thống nói về đạo đức: “Mọi phép tắc không có đạo đức đều uổng công vô ích”.

Khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải cũng thể hiện hàm ý đạo đức hết sức sâu sắc: “Uống nước nhớ nguồn, yêu nước, làm vẻ vang nhà trường”. Uống nước nhớ nguồn, nói theo tiếng Anh là Thanksgiving, tức cảm ơn.

Nhưng hiện nay tại rất nhiều đại học kể cả các đại học danh tiếng ở nước ta lại có những tiếng nói trái tai: một số học sinh đến từ nông thôn không muốn găp cha mẹ mình, cảm thấy việc gặp ấy không đẹp mặt mình. Nhưng nếu cha mẹ giàu có thì lại cảm thấy gặp cha mẹ là chuyện rất vẻ vang. Bởi vậy, tôi nhớ tới một câu nói ĐH Harvard đề xướng: “Một người có thể có thành tích hay không, chẳng những chỉ xem chỉ số thông minh IQ, mà còn nên xem chỉ số tình cảm EQ và hơn nữa, xem chỉ số đạo đức của người đó”. [4]

Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục tiểu học, trung học cho đến đại học là đào tạo người công dân tốt cho xã hội. Tôi rất tán thành câu nói của Viện sĩ Cầu Pháp Tổ: “Muốn làm người thầy thuốc tốt thì phải làm con người tốt”.

Tại Mỹ, sinh viên học xong 4 năm đại học mới được vào Học viện Y khoa. Về sau Anh Quốc thấy được cái hay của việc đó. Cách đây 4 năm, ĐH Nottingham thành lập một học viện Y khoa, chỉ sinh viên đã tốt nghiệp đại học mới được vào học; điều kiện quan trọng đầu tiên trong tuyển sinh là xem phẩm chất con người đó chứ không phải xem thí sinh đã học chuyên ngành sinh vật hay khoa học tự nhiên. Hơn nữa còn đặc biệt nhấn mạnh: “Muốn làm thầy thuốc, trước hết phải biết làm con người như thế nào, biết cách đối xử với con người, lấy con người làm gốc.”

Năm 1998, UNESCO họp “Đại hội đón chào giáo dục cao đẳng thế kỷ XXI”, khi phát biểu tổng kết cuộc họp, Tổng Thư ký UNESCO nói: Nhà trường phải dạy học sinh học cách làm người, học cách sinh tồn (learn to be), học kiến thức (learn to know), học cách nắm được các kiến thức đó (learn how to learn), lại còn phải dạy học sinh học được cách sống chung với người khác (learn to deal with the others).

6. Văn hóa đại học là văn hoá tôn thờ tinh thần yêu nước

Câu “Yêu nước, làm rạng danh nhà trường” trong khẩu hiệu truyền thống của ĐH Giao thông Thượng Hải thể hiện trình độ cao của đạo đức, thể hiện tinh hoa văn hoá Trung Quốc.

Ngày 4/7/2001, tôi chính thức ngồi vào vị trí Hiệu trưởng (Chancellor) ĐH Nottingham. Khi lần đầu tiên lá cờ đỏ 5 sao được kéo lên trên sân trường đại học Anh Quốc, tôi cảm thấy rất đỗi tự hào. Tôi muốn nói với mọi người rằng đây không phải là chuyện cá nhân tôi thế nào, mà là chuyện tổ quốc tôi đã lớn mạnh. Thiết nghĩ 20 năm trước tôi không thể có được vị trí này.

Một bạn người Hoa mắt đẫm lệ nói với tôi: “Chẳng ai ngờ chiếc mũ viền vàng duy nhất của ĐH Nottingham hôm nay được trao cho một người Hoa đích thực”…  “Mỗi người Hoa đều có một giấc mơ, mơ ước làm sao cho Trung Quốc 5 nghìn năm văn hiến có thể đứng lên được trên thế giới này. Phải đứng thẳng lên, đứng cho vững!”

Đặng Gia Tiên từng nói: “Đối với một nhà khoa học, còn có gì đáng kiêu hãnh và tự hào hơn là được dâng hiến toàn bộ tri thức và trí tuệ của mình cho tổ quốc, làm cho dân tộc Trung Hoa thoát khỏi số phận bị nước ngoài xâu xé?” Ông là bạn học của Dương Chấn Ninh, hai người cùng lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ.

Năm 1971 Dương Chấn Ninh về Trung Quốc có gặp Đặng Gia Tiên và hỏi: “Trung Quốc phát triển vũ khí hạt nhân có người nước ngoài giúp hay không?” Dương hỏi câu này rất tự nhiên, vì hai phần ba nhà khoa học hạt nhân của Mỹ đều là người châu Âu; Liên Xô cũ khi phát triển vũ khí hạt nhân cũng dựa vào sự giúp đỡ của các nhà khoa học châu Âu.

Một tuần sau, khi Dương Chấn Ninh đang ăn cơm tối tại Thượng Hải thì nhận được một mẩu giấy của Đặng Gia Tiên, trong có viết: “Tôi đã điều tra rồi, đúng là kết quả tự lực cánh sinh của Trung Quốc”. Đọc xong mẩu giấy đó, Dương ứa nước mắt vì cảm động.

Vu Mẫn là một nhà vật lý tôi kính trọng nhất, tuy chưa từng học tập ở nước ngoài nhưng ông đã có cống hiến lớn cho nhà nước chúng ta, có người gọi ông là “Cha đẻ bom khinh khí Trung Quốc”. Vu Mẫn từng nói một câu: “Dân tộc Trung Hoa không bắt nạt người khác, cũng quyết không chịu để người khác bắt nạt; vũ khí hạt nhân là một biện pháp bảo đảm điều đó”. Viện sĩ Vu Mẫn nói lên động lực thúc đẩy ông làm việc.
Tình cảm dân tộc và tư tưởng yêu nước chất phác ấy cũng là động lực khiến tôi có được sự tiến bộ trong công việc.

Tinh thần yêu nước là phần rất đặc sắc trong văn minh Trung Hoa cổ xưa, nhưng nó quyết không phải là thứ văn hóa sở hữu riêng của Trung Quốc mà có tính phổ quát trên toàn thế giới. Trong diễn văn đọc tại ĐH Yale ngày 21/4/2006, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào từng nói: “Nathan Hale anh hùng dân tộc Mỹ cựu sinh viên ĐH Yale, có một danh ngôn – “Điều đáng tiếc duy nhất của tôi là không có cuộc đời thứ hai để hiến dâng cho Tổ quốc mình”.

Tôi có một người bạn Mỹ là cựu Tư lệnh Bộ đội chiến lược Mỹ, tướng 4 sao, từng có hơn 5.000 giờ bay, từng lái đủ mọi kiểu máy bay quân sự. Có lần tôi hỏi vợ ông: “Ông nhà bà bay nhiều như thế, bà có sợ gì không”. Bà ấy trả lời rất rõ ràng: “Nói không sợ là giả dối. Dĩ nhiên tôi sợ chứ. Nhưng vì lợi ích của nước Mỹ, ông ấy nhất thiết phải làm như thế”.

Người Mỹ có câu: For the interests of the United States [Vì lợi ích của Hợp Chúng Quốc]. Hồi Tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc, có người hỏi: “Ông đến đây làm gì?” Ông trả lời: “Vì lợi ích của nước Mỹ!”

Gates Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từng là Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp và Cơ khí; khi nhận được thông báo của Tổng thống đề nghị ông ra làm Bộ trưởng Quốc phòng, ông từng viết thư cho rất nhiều bạn bè, trong đó có câu “Tổng thống Mỹ đã tuyên bố bổ nhiệm tôi làm Bộ trưởng Quốc phòng. Tôi cảm thấy rất hân hạnh, đồng thời cũng cảm thấy một nỗi buồn sâu sắc, bởi lẽ tôi vô cùng yêu mến trường đại học này, yêu mến tiểu bang nơi tôi đang sinh sống này. Nhưng tôi càng yêu Tổ quốc mình hơn. Tôi phải chấp hành chức trách của mình, vì thế tôi phải đi khỏi nơi đây”. [5]

Đấy chính là tình yêu lớn! Tình yêu lớn trước hết phải yêu nồng nàn đất nước mình.

(Còn nữa)
Huy Đường lược dịch

Ghi chú của người dịch:
 

[1] Toàn văn câu này lấy từ Kinh Dịch: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tái vật. Nghĩa là kẻ quân tử nên như bầu trởi vận hành không nghỉ, dù gian nan phiêu bạt cũng không chịu khuất phục; kẻ quân tử phải có độ lượng giao tiếp rộng như trái đất, không thứ gì không thể gánh chịu được.

[2] Toàn văn câu này ở sách Luận Ngữ, Tử Trương-19: Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư, nhân tại kỳ trung hĩ.

[3] Nguyên văn câu này: Thiên giáo vạn giáo, giáo nhân cầu chân, thiên học vạn học, học tố chân nhân. Ý nghĩa: mục đích căn bản của giáo dục là giúp người ta trở thành người chân chính; một người qua giáo dục cho dù kiến thức uyên bác nhưng thiếu nhân cách thì việc giáo dục người đó là thất bại. Ngày ngày ta học nhiều kiến thức nhưng chỉ khi nào ta học biết cách làm người thì mới thực sự nắm được các tri thức khác, tri thức ấy mới hữu dụng cho xã hội. Đào Hành Tri: (1891-1945), nhà giáo dục nổi tiếng, chiến sĩ dân chủ, một trong các nhà lãnh đạo Hội Cứu nước nhân dân Trung Quốc và Đồng minh Dân chủ Trung Quốc.

[4] Chỉ số đạo đức: Moral Intelligence Quotient (MQ).

[5] Robert Gates, sinh 1943, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trong chính phủ của cả hai đảng Cộng Hòa (của Tổng thống Bush con) và Dân Chủ (Tổng thống Obama), từng làm việc 26 năm tại CIA, là Giám đốc CIA thời Tổng thống Bush cha; sau khi rời CIA ông làm Hiệu trưởng (president) Texas A&M University

Dương Phúc Gia
(Hiệu trưởng trường ĐH Nottingham Anh Quốc)

Cao đẳng Sư phạm Paris, nơi đào tạo
12 chủ nhân giải Nobel và 10 chủ nhân giải Fields.
Trong phần ba, GS  Dương Phúc Gia cho rằng, chỉ có thể được coi là đại học học hàng đầu khi ngôi trường đó đào tạo được những công dân tốt, có “tình yêu lớn” đối với giảng viên và sinh viên, bồi dưỡng cho sinh viên quan niệm đạo đức và phát huy thiên tài của sinh viên.
1. Giáo dục đại học phải đào tạo công dân tốt 

Vì sao nước Mỹ là siêu cường quốc? Trước hết Mỹ là một nước lớn giáo dục, hơn nữa là cường quốc giáo dục. Tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng Mỹ hiện nay đã vượt trên 90%.

Trung Quốc chúng ta cũng là một nước lớn giáo dục; tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng đã từ 1,4% năm 1978 tăng lên 23% hiện nay; tổng số sinh viên đã vượt quá 20 triệu, thứ nhất thế giới, nhưng chúng ta vẫn chưa phải là một cường quốc giáo dục.

Tư tưởng cơ bản của giáo dục Mỹ là đào tạo công dân tốt. Công dân được đào tạo tốt thì sẽ có người tài. Khẩu hiệu của ngành giáo dục Mỹ viết “Bảo đảm chất lượng giáo dục, bảo đảm giáo dục công bằng”.

Giáo dục phải đào tạo được công dân tốt cho xã hội. Tôi cảm thấy vấn đề làm thế nào để sinh viên đại học ngày nay trở thành công dân tốt là vấn đề rất quan trọng. Một nhà nghiên cứu sử từng nói, nền văn minh 5.000 năm của Trung Quốc rất vẻ vang, rất phong phú, nhưng thiếu một chữ “công”. Nền giáo dục truyền thống của chúng ta chú trọng trung và hiếu, trung là phải trung thành với vua, hiếu là phải hiếu thuận với cha mẹ; kết quả là “công đức” [1], cái không gian rất rộng này bị chúng ta bỏ qua mất.

Có người nói Thượng Hải sắp vượt Hồng Công. Đúng là xét về mặt xây dựng nhà cao tầng thì sẽ nhanh chóng vượt đấy, nhưng tố chất giáo dục thì sao? [2] Tố chất của công dân thế nào? Chúng ta còn phải đi một chặng đường rất dài để đạt được công đức. Điều quan trọng chính hiện nay là phải đào tạo công dân, đào tạo công dân tốt cho xã hội. Điều này nên trở thành nội dung quan trọng trong nội hàm văn hoá đại học.

2. Giáo dục đại học không thể thiếu được “Tình yêu lớn”

Tình yêu lớn là một điểm quan trọng trong nội hàm của văn hoá đại học. Xin nêu vài thí dụ sau đây để giới thiệu qua về chuyện các trường đại học hàng đầu yêu quý giảng viên và sinh viên như thế nào.

Ông Andrew Wiles, người Anh, năm 1985 được đề bạt là giáo sư chính thức của ĐH Princeton, nhưng 9 năm liền sau đó ông không viết một bài báo khoa học nào. Từ Hiệu trưởng cho tới Chủ nhiệm khoa đều không biết trong thời gian ấy ông làm gì và họ cũng chẳng để ý việc ông làm gì. Sau 9 năm trời, ông giải được bài toán khó 360 năm qua giới toán học thế giới chưa giải được – chứng minh được định lý lớn Fermat. Kết quả Andrew Wiles được tặng giải thưởng toán học cao nhất hiện nay – Giải Thành tựu đặc biệt Fields; cho tới nay ông là người duy nhất được trao giải thành tựu đặc biệt này. [3]

Giáo sư John Nash mắc bệnh tâm thần hơn 30 năm, nhưng sau khi ông mắc bệnh thì ĐH Princeton lại mời ông từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) về trường mình, bố trí phòng làm việc cho ông, đem lại tình thương yêu ấm áp cho ông. Đồng thời người nhà và bạn đồng nghiệp đều hết sức quan tâm giúp đỡ Nash. Ba chục năm sau, huyền thoại xuất hiện: John Nash khỏe mạnh trở lại và năm 1994 được tặng giải Nobel [Kinh tế]. Đây chính là sức thu hút của ĐH Princeton! Câu chuyện của giáo sư John Nash được viết thành tiểu thuyết “Một tâm hồn đẹp” [4] rồi dựng thành phim, phim này đã đoạt giải Oscar.

Cho nên đại học có đại sư rồi lại còn phải có tình yêu lớn. Trường đại học hàng đầu phải là nơi chỗ nào cũng thấy những tâm hồn đẹp. “Tâm hồn đẹp” là nội hàm văn hoá của ĐH Princeton! Nhà trường quan tâm đến thầy giáo của mình, tạo môi trường thoải mái cho thầy, để thầy tự do sáng tạo.

Còn có một giáo sư người Mỹ gốc Hoa là ông Dương Tổ Hựu, hiện là Hiệu trưởng một đại học nổi tiếng ở Mỹ. Trong năm đầu tiên nhậm chức Hiệu trưởng, ông đã hơn 100 lần mời cơm hơn 900 giáo sư. Ông vô cùng quan tâm mọi người, coi người tài là thứ quý giá nhất. Kết quả trong thời gian ông làm Hiệu trưởng, trường này đã có 5 giáo sư được tặng giải Nobel. Ông vẫn kiên trì lên lớp giảng dạy cho sinh viên và 13 năm liền hướng dẫn nghiên cứu sinh.

Tại Học viện Y khoa ĐH Harvard, tôi có gặp một vị giáo sư già làm phụ đạo cho sinh viên. Tôi hỏi ông phụ đạo bao nhiêu học trò, ông đáp hơn 160 người. Lúc đó quả thực tôi không dám tin vào con số ấy. Hơn nữa, điều càng làm tôi khó có thể tưởng tượng là ông nắm vững tình hình mọi mặt của từng sinh viên như trong lòng bàn tay. Vì thế mọi người gọi ông là “Chuẩn cha mẹ”. Đây là tình yêu thầy trò. Ba nghìn năm trước, một triết gia từng nói: “Đầu óc không phải là cái vật chứa đựng mà nên là bó đuốc được đốt cháy”.

3. Giáo dục đại học phải bồi dưỡng cho sinh viên quan niệm giá trị, quan niệm đạo đức, quan niệm tư duy, phương thức làm người và năng lực công tác xã hội

Vì sao ĐH Yale có thể đào tạo được nhiều lãnh tụ như thế cho nước Mỹ và cho thế giới?
Trường này có một quy chế yêu quý sinh viên, – cái này họ học được từ chế độ trọ học viện và chế độ thầy hướng dẫn của Anh Quốc. Hiệu trưởng ĐH Yale khiêm tốn nói, “Tất cả những người sau này trở thành Tổng thống đều là những sinh viên từng đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo các đoàn thể trong ký túc xá, dưới sự chỉ đạo của thầy hướng dẫn”.

Công tác xã hội cũng là một công việc học tập và rèn luyện quan trọng, là “giảng đường thứ hai” quan trọng! Các nhân vật kiểu Tổng thống, lãnh tụ đều được đào tạo từ các tổ chức này.

Một sinh viên tốt nghiệp ĐH Yale cho biết, nhà trường chẳng những bồi dưỡng cho anh những thứ có liên quan tới tri thức cụ thể, mà còn dạy cho anh giá trị quan, quan niệm đạo đức, cách làm người, thói quen suy nghĩ v.v… – những điều đó vô cùng quan trọng đối với cuộc đời anh. Tất cả những thứ ấy không phải là do một người nào dạy cho anh, mà là anh học được trong bầu không khí văn hoá tồn tại ở ĐH Yale. “Thế giới của chúng ta cần phải khác đi vì có sự tồn tại của bạn. Phấn đấu vì chân lý có nghĩa là tiếp thụ văn hoá tinh thần; tinh thần có thể làm cuộc sống con người trở nên phong phú”. Câu này chưa ai từng nói rõ cho sinh viên ĐH Yale, song tinh thần đó tràn trề trong bầu không khí khuôn viên nhà trường, vì thế nó thấm vào tới chỗ sâu kín nhất trong đầu óc mỗi sinh viên, sục sôi trong huyết quản của họ.

4. Nhiệm vụ của giáo dục đại học là phát huy thiên tài của sinh viên

ĐH Oxford có câu nói: “Thầy hướng dẫn có nhiệm vụ thổi lửa cho các học trò, cho tới khi ngọn đuốc trong lòng họ rực cháy”.

Trường Cao đẳng Sư phạm Paris đã không gọi là Học viện, lại cũng không gọi là đại học, mà chỉ gọi là trường học thôi, một cái tên chúng ta rất coi thường, thế mà họ giữ lại cái tên đó, không đồng ý thay đổi. Nhưng Cao đẳng Sư phạm Paris cũng là một đại học hàng đầu thế giới. Ông Hiệu trưởng trường này từng nói tại Bắc Kinh một câu như sau: “Nhiệm vụ của trường học là phát huy thiên tài của sinh viên”.

Trong Lễ kỷ niệm 350 năm ngày thành lập ĐH Harvard, vị Hiệu trưởng trường này nói: “Thứ Harvard đáng khoe nhất không phải là giành được bao nhiêu giải Nobel, đào tạo được bao nhiêu Tổng thống, mà là làm cho mỗi viên ngọc khi đã vào Harvard rồi thì đều tỏa sáng”. Trước hết, ông thừa nhận mỗi người vào Harvard đều là một viên ngọc (nguyên văn: cục vàng), ông có nhiệm vụ làm cho tất cả họ đều tỏa sáng. Ý tưởng tổ chức học tập của ĐH Oxford, Cambridge cũng đều nhằm khai thác phát huy tiềm năng của sinh viên, khích lệ tinh thần sáng tạo của mỗi người.

Chỉ cần ngòi lửa trong bộ não của mỗi người đều được cháy lên thì dù người ấy học đại học hay cao đẳng, họ đều có thể tỏa sáng. Những thí dụ như vậy ở đâu cũng có.

5. Chớ nên coi đào tạo người tài trình độ cao là mục tiêu duy nhất của giáo dục đại học

Các vị phụ huynh Trung Quốc chúng ta đều mong muốn con em mình có thể trở thành tiến sĩ. Chế độ nhân sự của ta cũng quy định lương của người có học vị tiến sĩ thì cao hơn người có học vị thạc sĩ.

Gần đây một vị bác sĩ bảo tôi, người làm việc ở bệnh viện nếu không có học vị tiến sĩ thì khó trụ nổi [5]. Cũng vậy, mới đây hai vị thầy thuốc đạo cao đức trọng nói cùng một câu thế này: “Rất lo sẽ có ngày chết trên bàn mổ của học trò mình!” (ý nói các bác sĩ ngoại khoa chỉ có bằng tiến sĩ mà không có kinh nghiệm lâm sàng).

Nhưng tại các bệnh viện ở Anh Quốc, người có học vị tiến sĩ chỉ chiếm khoảng 10% tổng số thầy thuốc. Học viện Y khoa Phân hiệu Los Angeles của ĐH California là y học viện hàng đầu thế giới, sinh viên tốt nghiệp đại học thi vào trường này cứ 5700 thí sinh chỉ có một người trúng tuyển (số liệu năm 2005). Trong 1.185 sinh viên hiện có tại học viện thì 700 người đặt mục tiêu là trở thành bác sĩ y khoa (M.D, tức Medical Doctor); 485 người đặt mục tiêu trở thành tiến sĩ nghiên cứu y học (Ph.D., tức Philosophic Doctor hoặc Doctor of Philosophy, gọi chung là tiến sĩ triết học). Cả hai đều là Doctor cả nhưng hàm nghĩa khác nhau, mục tiêu cũng khác nhau. [Trong tiếng Việt] M.D. dịch là bác sĩ, Ph.D. dịch là tiến sĩ; hai học vị này không có sự phân chia ai cao ai thấp, nhưng lương của bác sĩ nói chung cao hơn tiến sĩ.

Một bà y tá cấp cao hưởng lương cao hơn ông chồng mình có học vị tiến sĩ. Tại một bệnh viện trực thuộc Học viện Y thuộc Phân hiệu ĐH Los Angeles, số người có học vị tiến sĩ là 10 người, chưa bằng 10% tổng số thầy thuốc. Tại một bệnh viện thần kinh khác, số bác sĩ thần kinh là 183 người, số nhà tâm lý học (đều có học vị tiến sĩ) là 122 người nhưng hầu như chẳng có ai vừa là thầy thuốc là vừa là tiến sĩ.

Mỹ là quốc gia phát triển cao, trong số 3.688 trường viện đại học-cao đẳng có 60% là trường chuyên ngành và trường cộng đồng; còn các trường đại học kiểu nghiên cứu chỉ chiếm 3%. Nhưng tại Trung Quốc, số lượng đơn vị được phép cấp học vị tiến sĩ lại nhiều hơn cả nước Mỹ, tuy rằng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành thì kém xa Mỹ. Đồng thời gần đây các trường đại học ở Trung Quốc không ngừng mở rộng tuyển sinh, ngày càng có nhiều bạn trẻ có cơ hội vào đại học. Thế nhưng rất nhiều vị phụ huynh coi thường các trường đại học-cao đẳng chuyên ngành. Chế độ thi đại học-cao đẳng của chúng ta cũng chưa hợp lý, đưa số thí sinh đạt điểm thi thấp vào các trường chuyên ngành.

Một điều đáng suy ngẫm sâu sắc là rất nhiều trường đại học-cao đẳng nước ta theo đuổi mục tiêu “nâng cấp” trường mình thành trường tổng hợp, dẫn đến tình trạng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành ngày một giảm bớt!

Ngành giáo dục của chúng ta không thể chỉ theo đuổi sự biến đổi số lượng sinh viên đại học mà quan trọng hơn là phải luôn luôn nâng chất lượng cơ cấu giáo dục cao đẳng. Có thể ví trường đại học-cao đẳng chuyên ngành và trường tổng hợp như hai loại nhạc cụ trong cùng một dàn nhạc. Khi lập kế hoạch phát triển giáo dục đại học-cao đẳng, nên phối hợp phát triển hài hòa cả hai loại trường này.

(Còn tiếp)
Huy Đường lược dịch

Ghi chú của người dịch:

[1] Trong tiếng Trung, Công đức là đạo đức tồn tại trong quần thể xã hội rộng, phân biệt với Tư đức là đạo đức tồn tại trong quần thể nhỏ hoặc giữa các cá nhân.

[2] Các đại học ở Hồng Công đều được xếp hạng cao hơn các đại học ở Bắc Kinh và Thượng Hải.

[3] Ở đây có lẽ tác giả nhầm lẫn. Thực ra Andrew Wiles không được trao giải Fields vì đã quá giới hạn 40 tuổi (sinh 1953, chứng minh được định lý lớn Fermat năm 1994, khi ấy ông đã 41 tuổi). Ông được tặng Đĩa bạc (Silver Plaque) của International Mathematical Union (IMU) năm 1998; ngoài ra còn được tặng Notable awards Fermat Prize (1995), Wolf Prize (1995/6) và Royal Medal (1996).

[4] Tên bộ phim là “A Beautiful Mind“, dịch sang tiếng Trung thành Một tâm hồn đẹp là không sát nghĩa.

[5] Những năm gần đây TQ phát sinh tệ nạn sính bằng cấp tiến sĩ. Các đại học đua nhau tuyển nghiên cứu sinh (NCS) và “lạm phát” cấp bằng tiến sĩ; nạn đạo văn, gian lận trong việc làm luận văn và cấp bằng tiến sĩ rất phổ biến. Một cựu hiệu phó ĐH Bắc Kinh từng nói 70% nữ NCS trường ông bị thầy hướng dẫn “xài” (quấy nhiễu tình dục).


Một suy nghĩ 4 thoughts on “Thế nào là đại học hàng đầu thế giới?”

  1. Em có xem A beautiful mind rồi, một bộ phim rất đẹp, đến rơi nước mắt! 🙂

    Bài viết này hay quá!

    Còn ở Việt Nam thì sao nhỉ? Đại học Việt Nam và những câu chuyện dài ngán kể. :p

    Số lượt thích

  2. Harvard đánh giá khủng hoảng giáo dục đại học VN
    Thứ sáu, 11/09/2009 9:58 AM
    Trong nội dung cơ bản của bản báo cáo thuộc khuôn khổ Asia Programs của Trường lãnh đạo Kennedy thuộc ĐH Harvard, do hai tác giả Thomas J. Vallely và Ben Wilkinson thực hiện với tựa đề: Giáo dục đại học – cao đẳng Việt Nam: Khủng hoảng và đối phó, các tác giả đã đưa ra đánh giá về khủng hoảng giáo dục đại học Việt Nam
    Chúng tôi bắt đầu bằng việc phân tích tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng và những nguyên nhân căn bản của nó.

    Sau đó, chúng tôi xem xét các nhân tố chủ yếu – Chính phủ Việt Nam, người dân Việt Nam và cộng động quốc tế – đang phản ứng như thế nào trước tình hình này.

    Chúng tôi đi đến kết luận bằng việc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới về mặt thể chế như một thành tố cần thiết của một quá trình cải cách hiệu quả.

    (Các tác giả báo cáo)

    Quy mô của cuộc khủng hoảng

    Rất khó để phóng đại tính chất nghiêm trọng của những thách thức đang đặt ra với Việt Nam trong giáo dục đại học – cao đẳng (ĐH – CĐ). Chúng tôi tin rằng nếu không có một sự cải cách khẩn cấp và căn bản đối với hệ thống giáo dục ĐH – CĐ, Việt Nam sẽ không đạt được đúng mức tiềm năng to lớn của mình [1].

    Sự phát triển kinh tế ở Đông Á và Đông Nam Á đã cho thấy quan hệ mật thiết giữa phát triển và giáo dục ĐH – CĐ. Cho dù trong các nước và vùng lãnh thổ thịnh vượng nhất ở khu vực – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, và gần đây là Trung Quốc – mỗi nơi đều đi theo những con đường phát triển độc đáo, nhưng điểm chung trong thành công của họ là sự theo đuổi nhất quán một nền khoa học và giáo dục ĐH – CĐ chất lượng cao. 

    Một số nước tương đối kém thành công hơn ở Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines và Indonesia – lại là một câu chuyện mang tính cảnh báo. Những nước này nói chung đã không đạt được chất lượng cao trong khoa học và giáo dục ĐH – CĐ và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế tiến bộ. Đó không phải là một điềm tốt cho tương lai nếu các trường đại học Việt Nam tụt hậu xa so với chính những láng giềng Đông Nam Á không mấy nổi bật của họ.

    Việt Nam không có một trường đại học nào có chất lượng được công nhận. Không có một cơ sở nào của Việt Nam có tên trong bất cứ danh sách được sử dụng rộng rãi nào (nếu nhận định trên còn chưa rõ ràng) tập hợp các trường đại học hàng đầu ở châu Á. Về phương diện này thì Việt Nam khác xa với cả những nước Đông Nam Á khác, hầu hết các nước này đều có thể kiêu hãnh về ít nhất một vài cơ sở có đẳng cấp. Các trường đại học Việt Nam phần lớn bị cô lập khỏi các dòng chảy kiến thức quốc tế [2], như những gì thể hiện qua số liệu nghèo nàn tại thống kê dưới đây:

    Bài viết được xuất bản trên các tạp chí khoa học năm 2007

    Cơ sở

    Quốc gia

    Số bài viết

    Đại học tổng hợp Quốc gia Seoul

    Hàn Quốc

    5.060

    Đại học tổng hợp Quốc gia Singapore

    Singapore

    3.598

    Đại học tổng hợp Bắc Kinh

    Trung Quốc

    3.219

    Đại học tổng hợp Phúc Đan

    Trung Quốc

    2.343

    Đại học tổng hợp Mahidol

    Thái Lan

    950

    Đại học tổng hợp Chulalongkorn

    Thái Lan

    822

    Đại học tổng hợp Malaya

    Malaysia

    504

    Đại học tổng hợp Philippines

    Philippines

    220

    Đại học Quốc gia Việt Nam (Hà Nội và TP.HCM)

    Việt Nam

    52

    Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

    Việt Nam

    44

    Nguồn: Science Citation Index Expanded, Thomson Reuters

    Các trường đại học Việt Nam chưa sản sinh được lực lượng lao động có trình độ như đòi hỏi của nền kinh tế và xã hội Việt Nam. Các cuộc điều tra do các hiệp hội thuộc Chính phủ thực hiện cho thấy khoảng 50% sinh viên tốt nghiệp đại học ở Việt Nam không tìm được việc làm đúng chuyên môn, một bằng chứng cho thấy sự thiếu liên kết nghiêm trọng giữa giảng dạy và nhu cầu của thị trường. Với hơn 25% chương trình học ở đại học là dành cho các môn bắt buộc quá nặng về tuyên truyền chính trị, không phải băn khoăn nhiều về việc sinh viên Việt Nam được trang bị rất kém cho cả việc đi làm lẫn việc đi du học. 

    Có thể lấy việc Intel tìm cách thuê tuyển kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở thành phố HCM làm ví dụ minh hoạ. Khi công ty này thực hiện một cuộc kiểm tra đánh giá theo tiêu chuẩn với 2.000 sinh viên CNTT Việt Nam, chỉ có 90 ứng cử viên, nghĩa là 5%, vượt qua cuộc kiểm tra, và trong nhóm này, chỉ có 40 người có đủ trình độ tiếng Anh đạt yêu cầu tuyển dụng. Intel xác nhận rằng đây là kết quả tệ nhất mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư.

    Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế cũng cho rằng việc thiếu các công nhân và quản lý có kỹ năng là cản trở lớn nhất đối với việc mở rộng sản xuất. Chất lượng nghèo nàn của giáo dục đại học còn có một ngụ ý khác: đối lập với những người cùng thế hệ ở Ấn Độ và Trung Quốc, người Việt Nam thường không thể cạnh tranh được để lọt qua những khe cửa hẹp của các chương trình đại học cao cấp ở Mỹ và châu Âu.

    Chỉ số sáng tạo

    Quốc gia

    Số  bằng sáng chế được cấp năm 2006

    Hàn Quốc

    102.633

    Trung Quốc

    26.292

    Singapore

    995

    Thailand

    158

    Malaysia

    147

    Philippines

    76

    Việt Nam

    0

    Nguồn: World Intellectual Property Organization, 2008 Statistical Review

    Nguyên nhân khủng hoảng

    Di sản lịch sử

    Những vấn đề mà Việt Nam đang đối mặt trong giáo dục ĐH – CĐ hiện nay là một phần hậu quả của lịch sử hiện đại của đất nước này. Chế độ thực dân Pháp cai trị Việt Nam từ nửa sau thế kỷ 19 đến tận năm 1945 đầu tư rất ít ỏi vào giáo dục cấp ba, thậm chí là so với các cường quốc thực dân khác. Hậu quả là, Việt Nam đã bỏ lỡ làn sóng cải cách thể chế trong giáo dục ĐH – CĐ tràn qua phần lớn khu vực châu Á đầu thế kỷ 20. Trong giai đoạn này, rất nhiều cơ sở giáo dục ĐH – CĐ hàng đầu của khu vực đã được thành lập. Hậu quả là sau khi giành độc lập, Việt Nam chỉ có một nền tảng thể chế rất yếu để từ đó xây dựng lên. (Điều này trái ngược hẳn với Trung Quốc, hầu hết các trường đại học đầu bảng của nước này hiện nay đều được thành lập vững chắc từ trước cách mạng).

    Quản lý

    Nguyên nhân trực tiếp nhất của cuộc khủng hoảng ngày nay là sự thất bại ngiêm trọng trong quản lý. Các trường đại học có chất lượng, từ Boston đến Bắc Kinh, đều có những nhân tố chủ chốt nhất định mà Việt Nam hiện đang rất thiếu [3].

    Tự trị: Các cơ sở học thuật ở Việt Nam vẫn chịu một hệ thống quản lý tập trung hoá cao độ. Chính quyền trung ương quyết định số lượng sinh viên các trường được phép tuyển, và (trong trường hợp các trường đại học công lập) lương trả cho các giảng viên đại học. Ngay cả những quyết định mang tính thiết yếu đối với việc vận hành một trường đại học như việc lập khoa cũng do hệ thống quản lý tập trung hoá này kiểm soát. Hệ thống này hoàn toàn không khuyến khích các trường và học viện cạnh tranh hay đổi mới. Thù lao được trả căn cứ vào thâm niên, và lương cứng thấp đến nỗi các giảng viên đại học phải “đi đêm” rất nhiều để có thể đảm bảo cuộc sống. Khác hẳn với Trung Quốc, Việt Nam vẫn chưa thực sự khuyến khích người Việt Nam học ở nước ngoài.

     
    Các thí sinh trong kỳ thi đại học. (Ảnh: VNN)
    Lựa chọn dựa trên thành tích: Tham nhũng lan tràn và việc mua bán bằng cấp, học hàm, học vị là rất phổ biến [4]. Các hệ thống nhân sự đại học đều mù mờ và việc bổ nhiệm thường dựa trên những tiêu chuẩn phi học thuật như thâm niên, lý lịch gia đình và chính trị, và các mối quan hệ cá nhân. Các khoa và các cấp hành chính cao hơn có xu hướng do các cá nhân từng được đào tạo ở Liên Xô hay Đông Âu nắm giữ, những người này không nói được tiếng Anh và, trong không ít trường hợp không mặn mà với các đồng nghiệp trẻ được đào tạo ở phương Tây.

    Các mối liên hệ và tiêu chuẩn quốc tế: Sản sinh kiến thức là việc của một doanh nghiệp không biên giới, nhưng các cơ sở học thuật ở Việt Nam lại thiếu những mối liên hệ quốc tế có ý nghĩa. Trên thực tế, các học giả trẻ được đào tạo ở nước ngoài thường xuyên lấy lý do để tránh làm việc trong các cơ sở học thuật ở Việt Nam là họ lo sợ không thể gắn bó với lĩnh vực của mình. Như GS. Hoàng Tụy miêu tả, giới học thuật Việt Nam rất hướng nội và không đánh giá bản thân theo các tiêu chuẩn quốc tế.

    Trách nhiệm giải trình: Các trường đại học Việt Nam không chịu trách nhiệm trước các cổ đông bên ngoài, và đáng trách là trong đó có cả những người tuyển dụng. Trong nội bộ hệ thống công lập, việc rót vốn không liên quan đến công việc hay chất lượng theo bất cứ hình thức đáng kể nào. Tương tự, kinh phí nghiên cứu của Chính phủ cũng không được cấp một cách có cạnh tranh mà chủ yếu được coi là một hình thức bổ sung lương. Vì có quá nhiều người thèm muốn những cánh cửa hẹp vào các trường đại học – chỉ 1/10 người Việt Nam ở độ tuổi học đại học được tuyển sinh vào các trường sau phổ thông – nên các trường đại học Việt Nam không phải chịu áp lực đổi mới nào. Họ có một thị trường bị giam cầm, vì du học chỉ là sự lựa chọn của một thiểu số rất nhỏ.

    Tự do học thuật: Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, các trường đại học ở Việt Nam cũng thiếu động lực tri thức ở một mức độ đáng kể. Ngay cả khi các trường đại học đang dần được phép nới lỏng hơn, vẫn có một mạng lưới các kiểm soát và kiềm chế chính thức và không chính thức để đảm bảo rằng các trường đại học vẫn tiếp tục suy tàn về tri thức trong khi các cuộc tranh luận trong xã hội ngày càng sôi nổi hơn.

    Có một số ẩn ý trong luận điểm trên. Trước hết, rào cản chính đối với việc cho ra những kết quả cải thiện hơn trong giáo dục ĐH – CĐ lại không phải là chuyện tài chính. Trên thực tế, tính theo tỉ lệ trong GDP, Việt Nam chi nhiều cho giáo dục hơn nhiều nước khác trong khu vực. Con số này còn chưa tính đến số tiền lớn mà chính các gia đình Việt Nam đầu tư vào giáo dục cho con cái họ, ở nhà và ở nước ngoài. Nhưng tiêu tiền như thế nào lại là chuyện khác. 

    Thứ hai, đầu tư vào du học vẫn chưa đủ để cải thiện hệ thống. Nếu môi trường chuyên môn không được đại tu, sẽ không có nhiều người Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài muốn quay về làm công tác giảng dạy.

    Theo Tuần Việt Nam

    PS: Doc nguyen ban tieng Anh tai day:

    Click to access HigherEducationOverview112008.pdf

    Số lượt thích

  3. Hoangtupe thân mến!

    MK đã từng học ĐH (hệ chính quy) tại Việt Nam nên hiểu biết về đào tạo ĐH của Việt Nam, nên không lấy gì làm lạ về đánh giá của ĐH Harvard. Về cơ bản, không chỉ trong đào tạo ĐH của Việt Nam, mà cả trong nhiều lĩnh vực khác, cái sai lầm lớn nhất là “những lỗi của hệ thống” (System errors) (xem Page 9 of 11) …. Viết về đề tài như là viết về “Chuyện thường ngày ở huyện” hay “Chuyện trong nhà ngoài phố”.

    Thời sinh viên của bọn mình thì giải quyết bằng cách “tự cứu lấy mình trước khi trời cứu”, tức đi du học tự túc …. Cũng may là đi du học tự túc lúc đó không bị cấm! Sau khi nhà nước công bố chương trình “Ra nước ngoài để giải quyết việc riêng”. Sau đó, dân Việt mình mới được du lịch, du học, và chữa bệnh.

    Các thầy ở ĐH cũng khuyên SV như vậy. Còn việc học xong về hay ở lại là quyết định là quyết định cá nhân.

    Sau khi du học và học xong thì mình mới thấy được sự khác biệt lớn về mục đích và chất lượng đào tạo của các nước và các hệ thống!

    Thân

    MK

    PS: MK post các phần khác trong loạt bài. Có lẽ Anh Hoành quên hay chưa post 🙂

    Lược dịch: Huy Đường
    Nguồn: 2007-09-02 http://news.163.com/

    III. GỢI Ý CỦA ĐẠI HỌC HÀNG ĐẦU

    1. Giáo dục đại học phải đào tạo công dân tốt
    Vì sao nước Mỹ là siêu cường quốc? Trước hết Mỹ là một nước lớn giáo dục, hơn nữa là cường quốc giáo dục. Tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng Mỹ hiện nay đã vượt trên 90%.
    Trung Quốc chúng ta cũng là một nước lớn giáo dục; tỷ lệ học sinh nhập học giáo dục cao đẳng đã từ 1,4% năm 1978 tăng lên 23% hiện nay; tổng số sinh viên đã vượt quá 20 triệu, thứ nhất thế giới, nhưng chúng ta vẫn chưa phải là một cường quốc giáo dục
    Tư tưởng cơ bản của giáo dục Mỹ là đào tạo công dân tốt. Công dân được đào tạo tốt thì sẽ có người tài. Khẩu hiệu của ngành giáo dục Mỹ viết “Bảo đảm chất lượng giáo dục, bảo đảm giáo dục công bằng”.
    Giáo dục phải đào tạo được công dân tốt cho xã hội. Tôi cảm thấy vấn đề làm thế nào để sinh viên đại học ngày nay trở thành công dân tốt là vấn đề rất quan trọng. Một nhà nghiên cứu sử từng nói, nền văn minh 5000 năm của Trung Quốc rất vẻ vang, rất phong phú, nhưng thiếu một chữ “công”. Nền giáo dục truyền thống của chúng ta chú trọng trung và hiếu, trung là phải trung thành với vua, hiếu là phải hiếu thuận với cha mẹ; kết quả là “công đức” [1], cái không gian rất rộng này bị chúng ta bỏ qua mất.
    Có người nói Thượng Hải sắp vượt Hong Kong. Đúng là xét về mặt xây dựng nhà cao tầng thì sẽ nhanh chóng vượt đấy, nhưng tố chất giáo dục thì sao? [2] Tố chất của công dân thế nào? Chúng ta còn phải đi một chặng đường rất dài để đạt được công đức. Điều quan trọng chính hiện nay là phải đào tạo công dân, đào tạo công dân tốt cho xã hội. Điều này nên trở thành nội dung quan trọng trong nội hàm văn hoá đại học.

    2. Giáo dục đại học không thể thiếu được “Tình yêu lớn”
    Tình yêu lớn là một điểm quan trọng trong nội hàm của văn hoá đại học. Xin nêu vài thí dụ sau đây để giới thiệu qua về chuyện các trường Đại học hàng đầu yêu quý thầy giáo và học sinh như thế nào.
    Ông Andrew Wiles, người Anh, năm 1985 được đề bạt là giáo sư chính thức của Đại học Princeton, nhưng 9 năm liền sau đó ông không viết một bài báo khoa học nào. Từ Hiệu trưởng cho tới Chủ nhiệm khoa đều không biết trong thời gian ấy ông làm gì và họ cũng chẳng để ý việc ông làm gì. Sau 9 năm trời, ông giải được bài toán khó 360 năm qua giới toán học thế giới chưa giải được – chứng minh được định lý lớn Fermat. Kết quả Andrew Wiles được tặng giải thưởng toán học cao nhất hiện nay – Giải Thành tựu đặc biệt Fields; cho tới nay ông là người duy nhất được trao giải thành tựu đặc biệt này [3]
    Giáo sư John Nash mắc bệnh tâm thần hơn 30 năm, nhưng sau khi ông mắc bệnh thì Đại học Princeton lại mời ông từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) về trường mình, bố trí phòng làm việc cho ông, đem lại tình thương yêu ấm áp cho ông. Đồng thời người nhà và bạn đồng nghiệp đều hết sức quan tâm giúp đỡ Nash. Ba chục năm sau, huyền thoại xuất hiện: John Nash khỏe mạnh trở lại và năm 1994 được tặng giải Nobel [giải kinh tế]. Đây chính là sức thu hút của Đại học Princeton! Câu chuyện của giáo sư John Nash được viết thành tiểu thuyết “Một tâm hồn đẹp” [4] rồi dựng thành phim, phim này đã đoạt giải Oscar.
    Cho nên Đại học có đại sư rồi lại còn phải có tình yêu lớn. Trường Đại học hàng đầu phải là nơi chỗ nào cũng thấy những tâm hồn đẹp. “Tâm hồn đẹp” là nội hàm văn hoá của Đại học Princeton! Nhà trường quan tâm đến thầy giáo của mình, tạo môi trường thoải mái cho thầy, để thầy tự do sáng tạo.
    Còn có một giáo sư người Mỹ gốc Hoa là ông Dương Tổ Hựu, hiện là Hiệu trưởng một Đại học nổi tiếng ở Mỹ. Trong năm đầu tiên nhậm chức Hiệu trưởng, ông đã hơn 100 lần mời cơm hơn 900 giáo sư. Ông vô cùng quan tâm mọi người, coi người tài là thứ quý giá nhất. Kết quả trong thời gian ông làm Hiệu trưởng, trường này đã có 5 giáo sư được tặng giải Nobel. Ông vẫn kiên trì lên lớp giảng dạy cho sinh viên và 13 năm liền hướng dẫn nghiên cứu sinh.
    Tại Học viện Y khoa Đại học Harvard, tôi có gặp một vị giáo sư già làm phụ đạo cho học sinh. Tôi hỏi ông phụ đạo bao nhiêu học trò, ông đáp hơn 160 người. Lúc đó quả thực tôi không dám tin vào con số ấy. Hơn nữa, điều càng làm tôi khó có thể tưởng tượng là ông nắm vững tình hình mọi mặt của từng học sinh như trong lòng bàn tay. Vì thế mọi người gọi ông là “Chuẩn cha mẹ”. Đây là tình yêu thầy trò. Ba nghìn năm trước, một triết gia từng nói: “Đầu óc không phải là cái vật chứa đựng mà nên là bó đuốc được đốt cháy”.
    Dưới sự giúp đỡ của thầy, của phụ huynh, mỗi học sinh cần hiểu được ngòi lửa của mình ở chỗ nào và biết nhóm cháy cái mồi ấy lên, như vậy mới có khả năng thành tài. “Nhân vô toàn tài, nhân nhân hữu tài” – đây là tư tưởng cơ bản của chúng ta; quan trọng là làm thế nào phát hiện cái tài đó.

    3. Giáo dục đại học phải bồi dưỡng cho học sinh quan niệm giá trị, quan niệm đạo đức, quan niệm tư duy, phương thức làm người và năng lực công tác xã hội
    Vì sao Đại học Yale có thể đào tạo được nhiều lãnh tụ như thế cho nước Mỹ và cho thế giới?
    Trường này có một quy chế yêu quý học sinh, – cái này họ học được từ chế độ trọ học viện và chế độ thầy hướng dẫn của Anh Quốc. Hiệu trưởng Đại học Yale khiêm tốn nói: “Tất cả những người sau này trở thành Tổng thống đều là những học sinh từng đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo các đoàn thể trong ký túc xá, dưới sự chỉ đạo của thầy hướng dẫn”.
    Công tác xã hội cũng là một công việc học tập và rèn luyện quan trọng, là “giảng đường thứ hai” quan trọng! Các nhân vật kiểu Tổng thống, lãnh tụ đều được đào tạo từ các tổ chức này.
    Một sinh viên tốt nghiệp Đại học Yale cho biết, nhà trường chẳng những bồi dưỡng cho anh những thứ có liên quan tới tri thức cụ thể, mà còn dạy cho anh giá trị quan, quan niệm đạo đức, cách làm người, thói quen suy nghĩ v.v… – những điều đó vô cùng quan trọng đối với cuộc đời anh. Tất cả những thứ ấy không phải là do một người nào dạy cho anh, mà là anh học được trong bầu không khí văn hoá tồn tại ở Đại học Yale. “Thế giới của chúng ta cần phải khác đi vì có sự tồn tại của bạn. Phấn đấu vì chân lý có nghĩa là tiếp thụ văn hoá tinh thần; tinh thần có thể làm cuộc sống con người trở nên phong phú”. Câu này chưa ai từng nói rõ cho học sinh Đại học Yale, song tinh thần đó tràn trề trong bầu không khí khuôn viên nhà trường, vì thế nó thấm vào tới chỗ sâu kín nhất trong đầu óc mỗi học sinh, sục sôi trong huyết quản của họ.

    4. Nhiệm vụ của giáo dục đại học là phát huy thiên tài của học sinh

    Đại học Oxford có câu nói: “Thầy hướng dẫn có nhiệm vụ thổi lửa cho các học trò, cho tới khi ngọn đuốc trong lòng họ rực cháy”.
    Trường Cao đẳng Sư phạm Paris đã không gọi là Học viện, lại cũng không gọi là Đại học, mà chỉ gọi là trường Cao đẳng thôi, một cái tên chúng ta rất coi thường, thế mà họ giữ lại cái tên đó, không đồng ý thay đổi. Nhưng Cao đẳng Sư phạm Paris cũng là một Đại học hàng đầu thế giới. Ông Hiệu trưởng trường này từng nói tại Bắc Kinh một câu như sau: “Nhiệm vụ của trường học là phát huy thiên tài của học sinh”.
    Trong Lễ kỷ niệm 350 năm ngày thành lập Đại học Harvard, vị Hiệu trưởng trường này nói: “Thứ Harvard đáng khoe nhất không phải là giành được bao nhiêu giải Nobel, đào tạo được bao nhiêu Tổng thống, mà là làm cho mỗi viên ngọc khi đã vào Harvard rồi thì đều tỏa sáng”. Trước hết, ông thừa nhận mỗi người vào Harvard đều là một viên ngọc [nguyên văn: cục vàng], ông có nhiệm vụ làm cho tất cả họ đều tỏa sáng. Ý tưởng tổ chức học tập của Đại học Oxford, Cambridge cũng đều nhằm khai thác phát huy tiềm năng của học sinh, khích lệ tinh thần sáng tạo của mỗi người.
    Chỉ cần ngòi lửa trong bộ não của mỗi người đều được cháy lên thì dù người ấy học đại học hay cao đẳng, họ đều có thể tỏa sáng. Những thí dụ như vậy ở đâu cũng có.

    5. Chớ nên coi đào tạo người tài trình độ cao là mục tiêu duy nhất của giáo dục đại học
    Các vị phụ huynh Trung Quốc chúng ta đều mong muốn con em mình có thể trở thành tiến sĩ. Chế độ nhân sự của ta cũng quy định lương của người có học vị tiến sĩ thì cao hơn người có học vị thạc sĩ.
    Gần đây một vị bác sĩ bảo tôi, người làm việc ở bệnh viện nếu không có học vị tiến sĩ thì khó trụ nổi [5]. Cũng vậy, mới đây hai vị thầy thuốc đạo cao đức trọng nói cùng một câu thế này: “Rất lo sẽ có ngày chết trên bàn mổ của học trò mình!” (ý nói các bác sĩ ngoại khoa chỉ có bằng tiến sĩ mà không có kinh nghiệm lâm sàng).
    Nhưng tại các bệnh viện ở Anh Quốc, người có học vị tiến sĩ chỉ chiếm khoảng 10% tổng số thầy thuốc. Học viện Y khoa Phân hiệu Los Angeles của Đại học California là y học viện hàng đầu thế giới, học sinh tốt nghiệp đại học thi vào trường này cứ 5700 thí sinh chỉ có một người trúng tuyển (số liệu năm 2005). Trong 1185 học sinh hiện có tại học viện thì 700 người đặt mục tiêu là trở thành bác sĩ y khoa (M.D, tức Medical Doctor); 485 người đặt mục tiêu trở thành tiến sĩ nghiên cứu y học (Ph.D., tức Philosophic Doctor hoặc Doctor of Philosophy, gọi chung là tiến sĩ triết học). Cả hai đều là Doctor cả nhưng hàm nghĩa khác nhau, mục tiêu cũng khác nhau. [Trong tiếng Việt] M.D. dịch là bác sĩ, Ph.D. dịch là tiến sĩ; hai học vị này không có sự phân chia ai cao ai thấp, nhưng lương của bác sĩ nói chung cao hơn tiến sĩ.
    Một bà y tá cấp cao hưởng lương cao hơn ông chồng mình có học vị tiến sĩ. Tại một bệnh viện trực thuộc Học viện Y thuộc Phân hiệu Đại học Los Angeles, số người có học vị tiến sĩ là 10 người, chưa bằng 10% tổng số thầy thuốc. Tại một bệnh viện thần kinh khác, số bác sĩ thần kinh là 183 người, số nhà tâm lý học (đều có học vị tiến sĩ) là 122 người nhưng hầu như chẳng có ai vừa là thầy thuốc là vừa là tiến sĩ.
    Mỹ là quốc gia phát triển cao, trong số 3688 trường viện đại học-cao đẳng có 60% là trường chuyên ngành và trường cộng đồng; còn các trường đại học kiểu nghiên cứu chỉ chiếm 3%. Nhưng tại Trung Quốc, số lượng đơn vị được phép cấp học vị tiến sĩ lại nhiều hơn cả nước Mỹ, tuy rằng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành thì kém xa Mỹ. Đồng thời gần đây các trường đại học ở Trung Quốc không ngừng mở rộng tuyển sinh, ngày càng có nhiều bạn trẻ có cơ hội vào đại học. Thế nhưng rất nhiều vị phụ huynh coi thường các trường đại học-cao đẳng chuyên ngành. Chế độ thi đại học-cao đẳng của chúng ta cũng chưa hợp lý, đưa số thí sinh đạt điểm thi thấp vào các trường chuyên ngành.
    Một điều đáng suy ngẫm sâu sắc là rất nhiều trường đại học-cao đẳng nước ta theo đuổi mục tiêu “nâng cấp” trường mình thành trường tổng hợp, dẫn đến tình trạng số lượng trường đại học-cao đẳng chuyên ngành ngày một giảm bớt!
    Ngành giáo dục của chúng ta không thể chỉ theo đuổi sự biến đổi số lượng sinh viên đại học mà quan trọng hơn là phải luôn luôn nâng chất lượng cơ cấu giáo dục cao đẳng. Có thể ví trường đại học-cao đẳng chuyên ngành và trường tổng hợp như hai loại nhạc cụ trong cùng một dàn nhạc. Khi lập kế hoạch phát triển giáo dục đại học-cao đẳng, nên phối hợp phát triển hài hòa cả hai loại trường này.

    IV. ĐẠI HỌC HÀNG ĐẦU ƯA CHUỘNG NHỮNG HỌC SINH NHƯ THẾ NÀO?
    Trong số ngót 23 nghìn học sinh ưu tú trên toàn thế giới nộp đơn xin vào Đại học Harvard năm 2007, chỉ có 2058 người từ 79 nước trúng tuyển. Đây là tỷ lệ trúng tuyển kỷ lục lịch sử, chỉ có khoảng 9% người gặp may. Vậy Đại học hàng đầu thực sự cần tuyển chọn những học sinh như thế nào?

    1. Phát huy năng lực tính sáng tạo và tính tập thể
    Trong số 2058 người gặp may nói trên, có một học sinh chưa đầy 18 tuổi, tên là Ngô Sinh Vĩ [1], được dư luận hết sức quan tâm. Anh đỗ thủ khoa tốt nghiệp cấp III (trong số thí sinh xin vào Harvard có khoảng 3000 thủ khoa như vậy); và đạt 2380 điểm thành tích thi toàn quốc Mỹ (tức thi SAT, hàng năm có 7 dịp thi, điểm số cao nhất là 2400), – nhưng trong số thí sinh cũng có không ít người đạt 2400 điểm SAT.
    Ngô Sinh Vĩ không những nhận được giấy báo thi đỗ của Harvard mà còn nhận được giấy báo trúng tuyển của các Đại học danh tiếng như Princeton, Yale, California (Berkley). Điều may mắn hơn nữa là anh nhận được học bổng đặc biệt cho phép có thể học ở bất cứ Đại học nào mà vẫn được chu cấp toàn bộ chi phí trong thời gian học đại học cho tới khi tốt nghiệp tiến sĩ (gồm học phí, chi phí sinh hoạt, tiền mua sách báo v.v…), tổng cộng không dưới nửa triệu USD.
    Vì sao Ngô Sinh Vĩ được coi trọng như vậy?
    Chẳng những học giỏi mà Ngô Sinh Vĩ còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Anh là Chủ tịch Phân bộ nhà trường của Tổ chức Ân xá quốc tế, Chủ tịch Phân bộ nhà trường của Tổ chức Chính trị gia trẻ nước Mỹ, Phó Chủ tịch Phân hội nhà trường của Hội Học sinh Danh dự toàn quốc, cũng là đội trưởng Đội Tranh luận của trường mình, Đội này từng đoạt giải nhất bang California năm 2006.
    Ngô Sinh Vĩ còn có một thành tích nữa được mọi người đặc biệt quan tâm, đó là năm 15 tuổi anh sáng lập Câu lạc bộ khoa học của học sinh trường mình, về sau lại sáng lập Hội Triển lãm khoa học, bố trí cho học sinh cấp III cặp đôi với học sinh tiểu học, giúp các em nhỏ tự chọn đề tài KHKT mình ưa thích để tiến hành nghiên cứu và sau đó thành tích nghiên cứu của các em được trưng bày tại Triển lãm KHKT.
    Cho dù làm hoạt động xã hội nào, Ngô đều tỏ ra có tính sáng tạo và tính tập thể. Một cậu học trò 15 tuổi mà tự mình sáng lập được những hai tổ chức: Câu lạc bộ và Hội Triển lãm. Chúng ta hoàn toàn có lý do để tin rằng một học sinh giàu tính sáng tạo như vậy sau này dù có làm ngành nào thì đều sẽ có sáng tạo. Một học sinh giàu tính tập thể như thế rất đáng được mọi người hoan nghênh.
    2. Các thể hiện xuất sắc về diện tri thức và nhiều lĩnh vực
    Ngày 1/4/2007, Thời báo New York dùng toàn bộ trang bìa một và hơn 10 trang tiếp theo đưa tin về cuộc sống của cô gái Thang Mai Tiệp [2] nguyên là học sinh trường Trung học phổ thông trực thuộc Đại học Phục Đán (Trung Quốc), nay là sinh viên năm thứ nhất Đại học Harvard. Toàn bộ trang bìa tờ báo này in đầy những lời hay ý đẹp bằng hai thứ tiếng Anh và Trung Quốc màu đỏ: Đã đến lúc thay đổi định nghĩa của truyền thống thành công; Điểm số không nói lên tất cả; Học sinh không phải là thứ đồ đựng; …..
    Thời báo New York đánh giá cao thành tích cải cách giáo dục của trường Trung học trực thuộc Đại học Phục Đán. Bài báo viết: “Thành công của Thang Mai Tiệp không phải là ở chỗ em cố trở thành thứ nhất trong lớp mình ….” “Tuy rằng em có những biểu hiện xuất sắc trong nhiều lĩnh vực, nhưng thành tích thi của em thường là không lọt vào Top 100 học sinh giỏi của nhà trường” (nếu căn cứ theo thành tích ấy thì khó được vào các Đại học hàng đầu Trung Quốc). “Nhưng em đã mở rộng được định nghĩa truyền thống của mọi người về thành công; đây là thành quả hoàn mỹ mà công cuộc giáo dục tố chất ở Trung Quốc nên hướng tới”.

    3. Thành tích công tác tập thể và xã hội của học sinh
    Vì sao Đại học Yale có thể đào tạo được nhiều lãnh tụ cho nước Mỹ và thế giới như vậy?
    Hiệu trưởng Đại học Yale trả lời: Tất cả những người sau này trở thành Tổng thống, khi ở Yale đều là những học sinh từng đảm đương chức vụ lãnh đạo trong các tổ chức đoàn thể và xã hội của học sinh. Công tác xã hội là công việc học tập và rèn luyện quan trọng, là “giảng đường thứ hai” của học sinh. Tổng thống, các nhân vật kiểu thủ lĩnh (kể cả các nhân vật đứng đầu giới học thuật) đều được đào tạo từ trong các tổ chức đó.
    Dù là Thang Mai Tiệp hay Ngô Sinh Vĩ, hai học sinh này đều đem lại cho chúng ta những gợi ý và suy nghĩ rất quan trọng: muốn có nhân tài kiệt xuất cho xã hội thì phải bắt đầu đào tạo họ ngay từ khi còn nhỏ tuổi!
    Chúng ta cần phải mạnh dạn đẩy mạnh công cuộc cải cách giáo dục, cần tạo cơ hội cho đông đảo bạn trẻ có điều kiện thể hiện bản thân, sao cho Trung Quốc xuất hiện ngày một nhiều những người như hai em học sinh nói trên và được các trường đại học Trung Quốc ưa chuộng.
    V. TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
    Trường Đại học là nơi tập hợp những người ưu tú; học sinh và tầng lớp tinh hoa từ khắp nơi trên thế giới gặp nhau tại đây, nơi được gọi là kho tàng tri thức nhân loại. Họ khoan dung, quý mến lẫn nhau. Trong không khí tràn đầy tinh thần đại học, mọi người cùng nhau tự do phát hiện khám phá, trăm hoa đua nở, tìm kiếm theo đuổi chân lý, thực hiện giấc mơ của mình.
    Mỗi học viên trẻ đều cần có ước mơ của mình, có ước mơ lớn, có ước mơ nhỏ. Ước mơ lớn đều như nhau, đó là ước mơ để cho đất nước ta thực sự đứng lên trên thế giới này, đứng cho thẳng, đứng cho vững.
    Có ba yếu tố rất quan trọng để thực hiện ước mơ, để thành tài, đó là: nhân sinh quan, sở thích và cơ hội.
    Dù bạn thông minh đến đâu, dù bạn chịu khó đến đâu nhưng nếu không có cơ hội thì sẽ rất khó thành tài.
    Tình hình Trung Quốc hiện nay rất tốt, là mảnh đất mầu mỡ đầy hy vọng, thể hiện ở chỗ tạo ra nhiều cơ may chưa từng có cho các bạn trẻ. Các trường Đại học của chúng ta luôn luôn cung cấp sân chơi cho mọi bạn trẻ, tạo cơ hội cho họ thành tài. Như Einstein từng nói: “Hàng ngày tôi tự nhắc nhở mình trên trăm lần rằng cuộc sống tinh thần và vật chất của tôi đều dựa vào lao động của người khác (kể cả người đang sống và người đã mất). Tôi phải cố gắng hết sức đóng góp cùng phần như vậy để đền đáp tất cả những gì tôi đã và đang được hưởng”.
    Đó là niềm tin của Einstein và cũng nên là một phần trong nhân sinh quan của chúng ta.
    Có động lực như vậy thúc đẩy thì ta sẽ có thể sẵn sàng đón tiếp mọi thách thức, vượt mọi khó khăn. Nhưng muốn sáng tạo được thì phải phát huy sức mạnh tập thể.
    “Hãy làm cho mỗi viên ngọc đều tỏa sáng”, đồng thời “không những mình phải tỏa sáng mà còn phải làm cho người khác cũng tỏa sáng”. Tôi nhớ lại lời của một chủ nhân giải Nobel: “Bạn chẳng những cần được thưởng thức thành tích của mình mà đồng thời nên thưởng thức thành tích người khác giành được”.
    Tóm lại, như lời Thủ tướng Ôn Gia Bảo nói tại buổi liên hoan sinh viên Đại học Liêu Ninh và Đông Bắc đêm giao thừa 17/2/2007:
    “Mỗi học sinh trước hết cần hiểu được đạo lý và mục tiêu suốt đời của mình là yêu Tổ quốc và phấn đấu vì Tổ quốc. Chỉ khi nào có tình yêu sâu sắc đất nước và nhân dân mình thì mới có tinh thần trách nhiệm mãnh liệt, thì mới có tinh thần hiến thân vì đất nước và nhân dân. Trò phải yêu thầy, thầy cũng phải yêu trò. Phải có tình yêu lớn với nhân dân. Có như vậy mới trở thành con người chân chính, con người có đạo đức”.■ (Hết)

    Dương Phúc Gia (Hiệu trưởng trường Đại học Nottingham, Anh Quốc)

    Huy Đường lược dịch

    Ghi chú của người dịch:
    [1] Tức Jonathan Wu, sinh năm 1989, có cha mẹ là người Hàn Quốc gốc Hoa sang Mỹ định cư.
    [2] Nữ sinh Thang Mai Tiệp học xong lớp 11 ở Thượng Hải rồi sang Mỹ học lớp 12 trường tư nổi tiếng Sidwell Friends Middle School, nơi đào tạo nhiều nhân vật tinh hoa (con gái Bill Clinton, con trai Al Gore, con gái Obama đều học ở đây). Do có biểu hiện tốt về mọi mặt, nhất là về hoạt động xã hội và thể thao nên Thang được Harvard tuyển vào học và cấp học bổng 45.000 USD/năm. Ban Tuyển sinh của Harvard chọn sinh viên không theo cách tổ chức thi thống nhất mà căn cứ theo thành tích tổng hợp của thí sinh, kể cả thành tích học tập, chứng chỉ tiếng Anh, các khen thưởng, hai thư giới thiệu của trường PTTH và hai luận văn ngắn của thí sinh. Có lẽ Sidwell Friends Middle School (chứ không phải trường ở Thượng Hải) giới thiệu Thang vào Harvard.

    Nguồn: 2007-09-02 http://news.163.com/

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s