Giáo dục đại học Việt Nam và Thái Lan qua vài con số

Nguyễn Văn Tuấn

ĐH Chulalongkorn, đại học hàng đầu ở Thái Lan với hơn 36 nghìn sinh viên.
Có dạo, các nhà hoạch định chính sách giáo dục Việt Nam xem xét nhiều mô hình đại học trên thế giới để tham khảo và đi đến cải cách giáo dục. Một trong những nước được nhiều chú ý là Thái Lan, bởi vì thành tựu giáo dục đại học của Thái Lan có thể nói là đáng khen ngợi. Chỉ trong vòng 50 năm phát triển, Thái Lan đã có một hệ thống giáo dục đại học tương đối hoàn chỉnh. Một số đại học Thái Lan đã trở thành những trung tâm giáo dục có uy tín ở Á châu, với nhiều sinh viên nước ngoài đến học. Ngay cả các quĩ học bổng quốc tế tuyển sinh Việt Nam cũng có khi gửi sinh viên sang Thái Lan học. Ngày nay, một số đại học lớn của Thái Lan thậm chí còn vươn ra xa thu hút sinh viên từ Việt Nam và các nước trong vùng! Do đó, tìm hiểu hệ thống đại học Thái Lan cũng có thể cung cấp cho chúng ta một vài thông tin có ích.

Nhân đọc một tài liệu về hệ thống giáo dục đại học của Thái Lan, tôi thấy vài con số thú vị, và tóm lược trong bảng dưới đây. Tôi đặt những con số này bên cạnh Việt Nam để chúng ta có vài nét “phác họa” chung cho hai hệ thống giáo dục và nhận ra một số khác biệt đáng chú ý.

Số đại học của Việt Nam trong niên học 2007-2008 là 160 trường, còn Thái Lan là 112 trường. Tính trung bình, cứ 536 ngàn dân chúng ta có một đại học, còn bên Thái Lan, con số này là 569 ngàn dân. Trong số 160 trường đại học Việt Nam, 120 trường (chiếm 75%) là công lập, trong khi đó, tỉ lệ trường công lập của Thái Lan là 78/112 (70%).

Hệ thống giáo dục đại học của Thái Lan có thể chia làm 4 nhóm. Nhóm thứ nhất bao gồm các đại học công lập dưới sự quản lí của Bộ Đại học. Nhóm thứ hai bao gồm các đại học tư nhân cũng chịu sự quản lí của Bộ Đại học. Thật ra, nói là Bộ Đại học quản lí, nhưng trong thực tế thì các đại học này đều tự chủ, và bộ chỉ quản lí định hướng và chính sách chung chứ không can thiệp vào chính sách tuyển sinh hay quản lí của đại học. Nhóm thứ ba là những học viện và trường cao đẳng do các bộ khác (như Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng) quản lí. Nhóm thứ tư là những viện chuyên ngành của các đoàn thể quốc gia hay tổ chức quốc tế (như Viện công nghệ Á châu – Asian Institute of Technology), Đại học Phật giáo Mahamongkut, Đại học Phật giáo Mahachulalongkorn, v.v…

Vài con số về giáo dục đại học của Việt Nam và Thái Lan 

Chỉ tiêu Việt Nam (2007-2008) Thái Lan 

(2007-2008)

Dân số 85.789.000 63.724.000
Số trường đại học 160 112
Số trường đại học công lập 120 78
Số trường đại học dân lập 40 34
Số sinh viên 1.180.547 2.032.461
Sinh viên trong các trường công 1.037.115 1.084.016
Sinh viên trong các trường dân lập 143.432 948.445
Số sinh viên tốt nghiệp 152.272 334.103
Công lập ? 143.762
Dân lập ? 190.341
Số giảng viên 38.217 59.562
Công lập 34.947 45.429
Dân lập 3.270 14.133
Trình độ giảng viên
Tiến sĩ 5.643 14.099
Cao học 15.421 35.783
“Chuyên khoa” 314 ?
Cử nhân 16.654 9.486
Giáo sư 303 ?
Phó giáo sư 1.805 ?
Số bài báo khoa học trên các tập san quốc tế (năm 2009) 959 4.527

Số liệu của Việt Nam có thể download từ trang nhà của Bộ GDĐT. Số liệu của Thái Lan trích từ tài liệu “Higher education in Thailand” của Ủy ban Giáo dục Đại học Thái Lan, năm 2007-2008.

Tuy Việt Nam có nhiều đại học hơn, nhưng số sinh viên thì ít hơn Thái Lan. Trong niên học 2007-2008, Việt Nam có 1,18 triệu sinh viên, chỉ bằng 58% số sinh viên của Thái Lan (2.03 triệu). Số sinh viên tính trên dân số của Việt Nam cũng thấp hơn Thái Lan. Ở Việt Nam, cứ 1.000 dân có 14 sinh viên. Còn ở Thái Lan, tính trung bình có 32 sinh viên trên 1.000 dân.

Tính trung bình, mỗi đại học công lập Việt Nam có 8.643 sinh viên, nhỏ hơn so với đại học công của Thái Lan (có ~14.000 sinh viên). Đại học dân lập Việt Nam thường nhỏ, với số sinh viên trung bình là ~3.600, còn Thái Lan con số này là ~28.000.

Trong niên học 2007-2008, có 152,272 sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học. Con số này bằng khoảng 46% số sinh viên Thái Lan tốt nghiệp.

Tuy Việt Nam có nhiều đại học, nhưng số giảng viên thì ít hơn Thái Lan. Theo thống kê của Bộ GDĐT, năm 2007-2008, có 38.217 giảng viên trong 160 đại học. Trong cùng niên học, Thái Lan có gần 60.000 giảng viên. Tính trung bình, mỗi đại học Việt Nam có 239 giảng viên, chỉ bẳng 45% của Thái Lan (trung bình có 532 giảng viên cho mỗi đại học). Đáng chú ý là số giảng viên cho mỗi đại học tư ở Việt Nam chỉ 82 người, trong khi đó con số này ở Thái Lan là 416 người.

Tuy nhiên, số sinh viên trên mỗi giảng viên giữa hai nước không khác nhau nhiều. Ở đại học Việt Nam, cứ 31 sinh viên thì có một giảng viên (con số này ở đại học dân lập là 44). Ở đại học Thái Lan, con số sinh viên cho mỗi giảng viên là 34 (và đại học tư là 67).

Về trình độ học vấn của giảng viên, có sự khác biệt khá lớn giữa hai nước. Trong số 38.217 giảng viên đại học ở Việt Nam, khoảng 15% có bằng tiến sĩ, 40% thạc sĩ, và 44% cử nhân. Ở Thái Lan, trong số 59.562 giảng viên, số có bằng tiến sĩ là 24%, thạc sĩ 60%, và cử nhân 16% (Biểu đồ 1).

 

Biểu đồ 1. Phân phối trình độ giảng viên đại học ở Việt Nam (màu xanh) và Thái Lan (màu tím)


Về năng suất khoa học, Việt Nam cũng thấp hơn Thái Lan
. Số bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế năm 2009 của Việt Nam là 959 bài, chỉ bằng 21% số bài của Thái Lan (4.527 bài). Chẳng những Việt Nam có số bài báo ít hơn, mà tỉ lệ tăng trưởng cũng thấp hơn Thái Lan. So với năm 2005, con số bài báo khoa học từ Thái Lan tăng gần gấp hai lần, trong khi đó Việt Nam chỉ tăng khoảng 75%.

Nói tóm lại, các dữ liệu thực tế trên đây cho thấy hệ thống giáo dục đại học Việt Nam kém hơn hẳn Thái Lan. Thật vậy, Việt Nam có nhiều trường đại học hơn, nhưng về cơ cấu giảng viên và đầu ra khoa học, thì rất kém so với Thái Lan. Chỉ có 15% giảng viên đại học Việt Nam có bằng tiến sĩ, thấp hơn Thái Lan gần 10%. Ở các nước tiên tiến, khoảng 65-70% giảng viên có trình độ tiến sĩ. Nói chung, đại học Việt Nam vẫn chủ yếu là cử nhân dạy cử nhân.

Một điều đáng ngạc nhiên là trong số 38.217 giảng viên đại học ở Việt Nam, chỉ có 2.108 người có chức danh giáo sư (303 người) và phó giáo sư (1805). Nói cách khác, số giáo sư và phó giáo sư chỉ chiếm khoảng 5% tổng số giảng viên! Không có con số giáo sư và phó giáo sư ở Thái Lan, nên không thể so sánh cụ thể, tuy nhiên tôi đoán rằng con số của Thái Lan cao hơn so với Việt Nam. Cần nhắc lại rằng Việt Nam đã phong hàm giáo sư và phó giáo sư cho khoảng 8.300 người. Những con số trên cho thấy trong số 8.300 người, chỉ có 1/4 là giảng viên đại học, phần 75% còn lại có lẽ là làm quan chức!

Những con số này còn cho thấy sau 50 năm xây dựng hệ thống đại học, Thái Lan cũng chỉ có khoảng 25% là tiến sĩ (và chỉ 14000 tiến sĩ), trong khi đó Việt Nam có tham vọng đào tạo 23.000 tiến sĩ trong vòng… 10 năm! Dữ liệu này một lần nữa cho thấy tính khả thi của dự án hai vạn tiến sĩ là một dấu hỏi lớn.

Hơn 30 năm trước, các đại học ở miền Nam Việt Nam là những trung tâm đào tạo sinh viên có uy tín trong vùng Đông Nam Á và Á châu nói chung. Thuở đó, có sinh viên từ Đông Nam Á, kể cả Thái Lan, sang Sài Gòn du học. Ngày nay, trong khi một số đại học Thái Lan đang trên đường trở thành “đẳng cấp quốc tế” và thậm chí sang Việt Nam chiêu sinh, còn các đại học Việt Nam thì đang loay hoay tìm kiếm một mô hình phát triển và mong muốn có tên trong danh sách “top 200”. Những dữ liệu mang tính so sánh trên đây cho thấy nếu không có một sự bứt phá trong cải cách giáo dục đại học, giấc mơ “đẳng cấp quốc tế” của chúng ta vẫn chỉ là một giấc mơ lãng mạn.

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Giáo dục đại học Việt Nam và Thái Lan qua vài con số”

  1. PS: Doc nguyen ban tieng Anh tai day:

    Click to access HigherEducationOverview112008.pdf

    Harvard đánh giá khủng hoảng giáo dục đại học VN

    Thứ sáu, 11/09/2009 9:58 AM

    Trong nội dung cơ bản của bản báo cáo thuộc khuôn khổ Asia Programs của Trường lãnh đạo Kennedy thuộc ĐH Harvard, do hai tác giả Thomas J. Vallely và Ben Wilkinson thực hiện với tựa đề: Giáo dục đại học – cao đẳng Việt Nam: Khủng hoảng và đối phó, các tác giả đã đưa ra đánh giá về khủng hoảng giáo dục đại học Việt Nam
    Chúng tôi bắt đầu bằng việc phân tích tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng và những nguyên nhân căn bản của nó.

    Sau đó, chúng tôi xem xét các nhân tố chủ yếu – Chính phủ Việt Nam, người dân Việt Nam và cộng động quốc tế – đang phản ứng như thế nào trước tình hình này.

    Chúng tôi đi đến kết luận bằng việc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới về mặt thể chế như một thành tố cần thiết của một quá trình cải cách hiệu quả.

    (Các tác giả báo cáo)

    Quy mô của cuộc khủng hoảng

    Rất khó để phóng đại tính chất nghiêm trọng của những thách thức đang đặt ra với Việt Nam trong giáo dục đại học – cao đẳng (ĐH – CĐ). Chúng tôi tin rằng nếu không có một sự cải cách khẩn cấp và căn bản đối với hệ thống giáo dục ĐH – CĐ, Việt Nam sẽ không đạt được đúng mức tiềm năng to lớn của mình [1].

    Sự phát triển kinh tế ở Đông Á và Đông Nam Á đã cho thấy quan hệ mật thiết giữa phát triển và giáo dục ĐH – CĐ. Cho dù trong các nước và vùng lãnh thổ thịnh vượng nhất ở khu vực – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, và gần đây là Trung Quốc – mỗi nơi đều đi theo những con đường phát triển độc đáo, nhưng điểm chung trong thành công của họ là sự theo đuổi nhất quán một nền khoa học và giáo dục ĐH – CĐ chất lượng cao.

    Một số nước tương đối kém thành công hơn ở Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines và Indonesia – lại là một câu chuyện mang tính cảnh báo. Những nước này nói chung đã không đạt được chất lượng cao trong khoa học và giáo dục ĐH – CĐ và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế tiến bộ. Đó không phải là một điềm tốt cho tương lai nếu các trường đại học Việt Nam tụt hậu xa so với chính những láng giềng Đông Nam Á không mấy nổi bật của họ.

    Việt Nam không có một trường đại học nào có chất lượng được công nhận. Không có một cơ sở nào của Việt Nam có tên trong bất cứ danh sách được sử dụng rộng rãi nào (nếu nhận định trên còn chưa rõ ràng) tập hợp các trường đại học hàng đầu ở châu Á. Về phương diện này thì Việt Nam khác xa với cả những nước Đông Nam Á khác, hầu hết các nước này đều có thể kiêu hãnh về ít nhất một vài cơ sở có đẳng cấp. Các trường đại học Việt Nam phần lớn bị cô lập khỏi các dòng chảy kiến thức quốc tế [2], như những gì thể hiện qua số liệu nghèo nàn tại thống kê dưới đây:

    Bài viết được xuất bản trên các tạp chí khoa học năm 2007

    Cơ sở

    Quốc gia

    Số bài viết

    Đại học tổng hợp Quốc gia Seoul

    Hàn Quốc

    5.060

    Đại học tổng hợp Quốc gia Singapore

    Singapore

    3.598

    Đại học tổng hợp Bắc Kinh

    Trung Quốc

    3.219

    Đại học tổng hợp Phúc Đan

    Trung Quốc

    2.343

    Đại học tổng hợp Mahidol

    Thái Lan

    950

    Đại học tổng hợp Chulalongkorn

    Thái Lan

    822

    Đại học tổng hợp Malaya

    Malaysia

    504

    Đại học tổng hợp Philippines

    Philippines

    220

    Đại học Quốc gia Việt Nam (Hà Nội và TP.HCM)

    Việt Nam

    52

    Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

    Việt Nam

    44

    Nguồn: Science Citation Index Expanded, Thomson Reuters

    Các trường đại học Việt Nam chưa sản sinh được lực lượng lao động có trình độ như đòi hỏi của nền kinh tế và xã hội Việt Nam. Các cuộc điều tra do các hiệp hội thuộc Chính phủ thực hiện cho thấy khoảng 50% sinh viên tốt nghiệp đại học ở Việt Nam không tìm được việc làm đúng chuyên môn, một bằng chứng cho thấy sự thiếu liên kết nghiêm trọng giữa giảng dạy và nhu cầu của thị trường. Với hơn 25% chương trình học ở đại học là dành cho các môn bắt buộc quá nặng về tuyên truyền chính trị, không phải băn khoăn nhiều về việc sinh viên Việt Nam được trang bị rất kém cho cả việc đi làm lẫn việc đi du học.

    Có thể lấy việc Intel tìm cách thuê tuyển kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở thành phố HCM làm ví dụ minh hoạ. Khi công ty này thực hiện một cuộc kiểm tra đánh giá theo tiêu chuẩn với 2.000 sinh viên CNTT Việt Nam, chỉ có 90 ứng cử viên, nghĩa là 5%, vượt qua cuộc kiểm tra, và trong nhóm này, chỉ có 40 người có đủ trình độ tiếng Anh đạt yêu cầu tuyển dụng. Intel xác nhận rằng đây là kết quả tệ nhất mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư.

    Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế cũng cho rằng việc thiếu các công nhân và quản lý có kỹ năng là cản trở lớn nhất đối với việc mở rộng sản xuất. Chất lượng nghèo nàn của giáo dục đại học còn có một ngụ ý khác: đối lập với những người cùng thế hệ ở Ấn Độ và Trung Quốc, người Việt Nam thường không thể cạnh tranh được để lọt qua những khe cửa hẹp của các chương trình đại học cao cấp ở Mỹ và châu Âu.

    Chỉ số sáng tạo

    Quốc gia

    Số bằng sáng chế được cấp năm 2006

    Hàn Quốc

    102.633

    Trung Quốc

    26.292

    Singapore

    995

    Thailand

    158

    Malaysia

    147

    Philippines

    76

    Việt Nam

    0

    Nguồn: World Intellectual Property Organization, 2008 Statistical Review

    Nguyên nhân khủng hoảng

    Di sản lịch sử

    Những vấn đề mà Việt Nam đang đối mặt trong giáo dục ĐH – CĐ hiện nay là một phần hậu quả của lịch sử hiện đại của đất nước này. Chế độ thực dân Pháp cai trị Việt Nam từ nửa sau thế kỷ 19 đến tận năm 1945 đầu tư rất ít ỏi vào giáo dục cấp ba, thậm chí là so với các cường quốc thực dân khác. Hậu quả là, Việt Nam đã bỏ lỡ làn sóng cải cách thể chế trong giáo dục ĐH – CĐ tràn qua phần lớn khu vực châu Á đầu thế kỷ 20. Trong giai đoạn này, rất nhiều cơ sở giáo dục ĐH – CĐ hàng đầu của khu vực đã được thành lập. Hậu quả là sau khi giành độc lập, Việt Nam chỉ có một nền tảng thể chế rất yếu để từ đó xây dựng lên. (Điều này trái ngược hẳn với Trung Quốc, hầu hết các trường đại học đầu bảng của nước này hiện nay đều được thành lập vững chắc từ trước cách mạng).

    Quản lý

    Nguyên nhân trực tiếp nhất của cuộc khủng hoảng ngày nay là sự thất bại ngiêm trọng trong quản lý. Các trường đại học có chất lượng, từ Boston đến Bắc Kinh, đều có những nhân tố chủ chốt nhất định mà Việt Nam hiện đang rất thiếu [3].

    Tự trị: Các cơ sở học thuật ở Việt Nam vẫn chịu một hệ thống quản lý tập trung hoá cao độ. Chính quyền trung ương quyết định số lượng sinh viên các trường được phép tuyển, và (trong trường hợp các trường đại học công lập) lương trả cho các giảng viên đại học. Ngay cả những quyết định mang tính thiết yếu đối với việc vận hành một trường đại học như việc lập khoa cũng do hệ thống quản lý tập trung hoá này kiểm soát. Hệ thống này hoàn toàn không khuyến khích các trường và học viện cạnh tranh hay đổi mới. Thù lao được trả căn cứ vào thâm niên, và lương cứng thấp đến nỗi các giảng viên đại học phải “đi đêm” rất nhiều để có thể đảm bảo cuộc sống. Khác hẳn với Trung Quốc, Việt Nam vẫn chưa thực sự khuyến khích người Việt Nam học ở nước ngoài.

    Các thí sinh trong kỳ thi đại học. (Ảnh: VNN)
    Lựa chọn dựa trên thành tích: Tham nhũng lan tràn và việc mua bán bằng cấp, học hàm, học vị là rất phổ biến [4]. Các hệ thống nhân sự đại học đều mù mờ và việc bổ nhiệm thường dựa trên những tiêu chuẩn phi học thuật như thâm niên, lý lịch gia đình và chính trị, và các mối quan hệ cá nhân. Các khoa và các cấp hành chính cao hơn có xu hướng do các cá nhân từng được đào tạo ở Liên Xô hay Đông Âu nắm giữ, những người này không nói được tiếng Anh và, trong không ít trường hợp không mặn mà với các đồng nghiệp trẻ được đào tạo ở phương Tây.

    Các mối liên hệ và tiêu chuẩn quốc tế: Sản sinh kiến thức là việc của một doanh nghiệp không biên giới, nhưng các cơ sở học thuật ở Việt Nam lại thiếu những mối liên hệ quốc tế có ý nghĩa. Trên thực tế, các học giả trẻ được đào tạo ở nước ngoài thường xuyên lấy lý do để tránh làm việc trong các cơ sở học thuật ở Việt Nam là họ lo sợ không thể gắn bó với lĩnh vực của mình. Như GS. Hoàng Tụy miêu tả, giới học thuật Việt Nam rất hướng nội và không đánh giá bản thân theo các tiêu chuẩn quốc tế.

    Trách nhiệm giải trình: Các trường đại học Việt Nam không chịu trách nhiệm trước các cổ đông bên ngoài, và đáng trách là trong đó có cả những người tuyển dụng. Trong nội bộ hệ thống công lập, việc rót vốn không liên quan đến công việc hay chất lượng theo bất cứ hình thức đáng kể nào. Tương tự, kinh phí nghiên cứu của Chính phủ cũng không được cấp một cách có cạnh tranh mà chủ yếu được coi là một hình thức bổ sung lương. Vì có quá nhiều người thèm muốn những cánh cửa hẹp vào các trường đại học – chỉ 1/10 người Việt Nam ở độ tuổi học đại học được tuyển sinh vào các trường sau phổ thông – nên các trường đại học Việt Nam không phải chịu áp lực đổi mới nào. Họ có một thị trường bị giam cầm, vì du học chỉ là sự lựa chọn của một thiểu số rất nhỏ.

    Tự do học thuật: Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, các trường đại học ở Việt Nam cũng thiếu động lực tri thức ở một mức độ đáng kể. Ngay cả khi các trường đại học đang dần được phép nới lỏng hơn, vẫn có một mạng lưới các kiểm soát và kiềm chế chính thức và không chính thức để đảm bảo rằng các trường đại học vẫn tiếp tục suy tàn về tri thức trong khi các cuộc tranh luận trong xã hội ngày càng sôi nổi hơn.

    Có một số ẩn ý trong luận điểm trên. Trước hết, rào cản chính đối với việc cho ra những kết quả cải thiện hơn trong giáo dục ĐH – CĐ lại không phải là chuyện tài chính. Trên thực tế, tính theo tỉ lệ trong GDP, Việt Nam chi nhiều cho giáo dục hơn nhiều nước khác trong khu vực. Con số này còn chưa tính đến số tiền lớn mà chính các gia đình Việt Nam đầu tư vào giáo dục cho con cái họ, ở nhà và ở nước ngoài. Nhưng tiêu tiền như thế nào lại là chuyện khác.

    Thứ hai, đầu tư vào du học vẫn chưa đủ để cải thiện hệ thống. Nếu môi trường chuyên môn không được đại tu, sẽ không có nhiều người Việt Nam được đào tạo ở nước ngoài muốn quay về làm công tác giảng dạy.

    Theo Tuần Việt Nam

    Số lượt thích

  2. Nguon Vietnamnet 24.12.2010

    ….. Bởi tự lâu rồi, có phải giáo dục cũng là một thị trường tấp nập? Ở đó, một chỗ học, một cái bằng cấp cũng

    ‘Tham nhũng giáo dục nổi cộm ở Việt Nam’

    Chia sẻ thành tựu của Việt Nam trong thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ (MDG) được vinh danh tại phiên họp toàn thể của Hội nghị cấp cao khai mạc chiều nay (20/9) tại ở New York, song Liên hợp quốc cũng chờ đợi Việt Nam giải quyết các thách thức nổi lên.

    Trao đổi từ Hà Nội với báo chí sáng nay trước phiên họp, Đại diện thường trú LHQ cũng như một số tổ chức thành viên nhấn mạnh thách thức đạt các mục tiêu MDG toàn diện đó là không thể chỉ là đánh giá kết quả nhiệm vụ tổng hợp chung ở cấp độ quốc gia.

    Ông John Hendra – điều phối viên thường trú Liên hợp quốc: Phổ cập giáo dục phải đảm bảo người nghèo không bị gạt ra ngoài lề.

    “Nếu chỉ nhìn vào con số chung, dễ có cảm giác cả nước hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong khi thực tế có những vùng, miền có kết quả đi chậm hơn các vùng khác. Thách thức đạt MDG không chỉ nhìn vào số liệu quốc gia ở mức độ nào mà phải nhìn vào kết quả cụ thể của từng vùng, miền, địa phương” – ông John Hendra, Điều phối viên thường trú LHQ phát biểu.

    Tham nhũng trong giáo dục là thách thức mà ông John Hendra lưu tâm.

    Ông nói tham nhũng trong lĩnh vực này đã trở nên nổi cộm. Việc phổ cập giáo dục phải đảm bảo người nghèo không bị gạt ra ngoài lề.

    “Không một gia đình nào lại muốn bỏ tiền để chi trả cho các dịch vụ mà lẽ ra phải được cung cấp miễn phí và bình đẳng cho tất cả mọi người, đó là quyền được học hành”.
    Cựu Đại sứ Thụy Điển Rolf Bergman nói tại Đối thoại về phòng, chống tham nhũng trong giáo dục cuối tháng 5 ở Hà Nội

    “Chính sách miễn giảm chi phí chính thức học phí sẽ không có ý nghĩa nếu như người dân vẫn phải dùng tiền túi cho các khoản chi phí không chính thức khác cho việc học của con em”, ông nói.

    Ai làm tổn thương ai?

    ….
    Tuy nhiên, câu chuyện đó không phải là giọt nước tràn ly. Bởi cái ly giáo dục đã tràn tự rất lâu rồi.

    Bởi tự lâu rồi, có phải giáo dục cũng là một thị trường tấp nập? Ở đó, một chỗ học, một cái bằng cấp cũng phải bán, mua. Điểm số “đắt, rẻ” và nhân cách người thầy cũng “rẻ, đắt” theo đồng tiền trao tay. Ở đó, giáo dục được xếp hạng tham nhũng nổi cộm (ý kiến của ông John Hendra, Điều phối viên thường trú LHQ ở phiên họp toàn thể của Hội nghị cấp cao khai mạc 20/9 tại New York). Khi tham nhũng nổi cộm thì sự thiêng liêng của đạo học, đạo thầy trò… bẹp gí.

    Cách đây ít năm, trên báo chí đưa ra những bài viết phê phán chương trình giáo dục, sách giáo khoa nhiều điều bất cập, một vụ trưởng vụ chức năng của ngành đã bất bình: “Ở nước ngoài, người ta không bao giờ đưa việc mổ xẻ chương trình, SGK lên mặt báo. Vì làm như thế là giáo dục mất thiêng”

    Nhưng rốt cuộc, chất lượng chương trình, SGK trở thành nỗi lo cho cả xã hội đến tận bây giờ, dù đã qua biết bao lần giảm tải, điều chỉnh, viết sách, chỉnh sửa…. Sự mất thiêng của giáo dục không phải do chính giáo dục, thì do ai đây?

    Thầy và trò ai làm tổn thương ai?

    Khi mới lên nhậm chức, Bộ trưởng Bộ GD và ĐT hiện nay có một câu trả lời phỏng vẫn khá ấn tượng, đại ý: “Tôi không muốn tạo dấu ấn cá nhân!”. Có thể câu nói đó hàm ý sự khiêm nhường của ông, có thể ông muốn lặng lẽ để gắng làm tốt hơn trọng trách mới mà một Bộ trưởng phải gánh, giữa bộn bề thách thức.

    Nhưng ông không muốn tạo dấu ấn cá nhân thì ngành giáo dục của ông, ở cơ sở, các nhà trường, thầy, cô, trò nam, trò nữ thi nhau tạo dấu ấn cá nhân bằng những vụ việc gây sốc. Đến nỗi có ai đó đã thốt lên: Đến bao giờ thì ngành ra ngành, thầy ra thầy, trò ra trò?

    Ngành giáo dục từng bất bình, cho rằng xã hội làm ngành bị tổn thương. Nhưng xét cho cùng, bằng những vụ việc, từ chương trình, sách giáo khoa, cho tới chuyện thương trường giáo dục, chuyện đạo lý thầy trò băng hoại, chính ngành tự làm tổn thương mình, và làm tổn thương xã hội.

    Giáo dục hôm nay, dân tộc ngày mai. Nhìn vào giáo dục mà thấy lo quá cho tương lai.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s