Sống chung với láng giềng lớn hơn: Thực tiễn và chính sách

Tác giả: Nguyễn Vũ Tùng

Nước lớn thường coi nhẹ quyền lợi của các nước nhỏ, thậm chí đem ra đổi chác trong ván bài nước lớn: nếu hợp tác, nước lớn hơn thường giành lợi lớn hơn; nếu xung đột, nước lớn hơn thường bắt nạt nước nhỏ hơn; và luật lệ không ràng buộc nước lớn hơn, vì nước lớn thường cho mình quyền “phá lệ”.

LTS: Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 81 (tháng 6/2010) đăng tải bài viết “Sống chung với láng giềng lớn hơn: Thực tiễn và chính sách” của PGS, TS Nguyễn Vũ Tùng, Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao, Học viện Ngoại giao phân tích về mối quan hệ giữa nước lớn và nước nhỏ (hơn).

Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Đối với nước nhỏ, quan hệ với nước lớn chung biên giới luôn là một mối quan hệ khó khăn.[1] Các khó khăn này có những nguồn gốc từ (i) sự chênh lệch rõ rệt về tầm vóc – vốn là kết quả của cả một quá trình lịch sử phát triển lâu dài liên quan tới các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, chính trị, ngoại giao… dẫn đến (ii) quan niệm về bản sắc nước lớn – nước nhỏ và từ đó đưa ra những đặc thù về hành vi nước lớn – nước nhỏ, theo đó nước lớn thường có tâm lý “đại quốc” và do vậy có hành vi coi thường, chèn ép “tiểu quốc”.

Trong tất cả các cặp quan hệ nước lớn – nước nhỏ, có hai yếu tố song hành tạo nên sự khó khăn trong quan hệ nước lớn – nước nhỏ: Sự vượt trội về tầm vóc của một nước thường đi cùng với tâm lý và hành vi nước lớn của nước đó so với các nước khác.

Nga (cũng như Liên Xô trước kia), Mỹ, Nhật, Trung Quốc luôn thường trực tâm lý mình là nước lớn và từ đó có hành vi nước lớn thể hiện qua cách xác định lợi ích và cách thức đạt tới lợi ích của mình trong mối giao tiếp với các nước khác.

Bài viết này tập trung phân tích (i) vai trò của yếu tố địa lý trong mối quan hệ phức tạp này, và (ii) tìm hiểu và đánh giá một số chiến lược ứng phó của nước nhỏ đối với nước lớn láng giềng.

Tác động của yếu tố địa lý

Yếu tố địa lý làm tăng thêm dạng tâm lý và hành vi đại quốc – tiểu quốc. Tâm lý và hành vi nước lớn thể hiện chung trong chính sách của nước lớn và thể hiện cụ thể nhất qua chính sách và quan hệ với nước nhỏ láng giềng.

Trong các trường hợp đặc thù nhất (một nước được thừa nhận là nước lớn so với một nước láng giềng có sức mạnh vật chất và tiềm lực nhỏ hơn nhiều lần), có thể thấy rằng tính chất bất cân xứng đóng vai trò quy định bản chất mối quan hệ này. Nói cách khác, sự bất cân xứng càng lớn thì tâm lý và hành vi nước lớn – nước nhỏ càng rõ rệt.

Sự cận kề địa lý làm sự so sánh có “địa chỉ” hơn, thậm chí nó còn mở rộng ra để cho sự chênh lệch tuy chưa tới mức vượt trội cũng đã làm cho tâm lý và hành vi nước lớn hình thành. Trường hợp quan hệ Thái Lan – Campuchia và phần nào là Nhật Bản – Hàn Quốc cho thấy xu hướng đó.

Thái Lan và Nhật Bản tuy không phải là nước lớn nhưng kề cận nhau về địa lý và đặc biệt nhạy cảm với sự chênh lệch dù là nhỏ nhất so với nước kia. Sự so sánh hơn – kém và cùng với nó là tâm lý nước lớn hơn – nước nhỏ hơn cũng theo đó hình thành.[2] Chính vì thế, khung quan hệ nước lớn – nước nhỏ thoạt đầu được cho là chỉ nảy sinh giữa các nước rất lớn và rất nhỏ, nay cần được bổ sung bằng thực tế của quan hệ giữa các nước có sự chênh lệch về tiềm lực. Nói cách khác, khung phân tích rộng và thích hợp hơn sẽ là quan hệ láng giềng giữa các nước lớn hơnnhỏ hơn.

Điều này trùng hợp với nghiên cứu về tổ hợp an ninh do Barry Buzan khởi xướng. Theo Buzan, tổ hợp an ninh chính là những mối quan hệ láng giềng chặt chẽ và có thể bị can thiệp, tác động từ những nước lớn hơn ở bên ngoài do sự bất cân xứng về sức mạnh. Đáng chú ý, Buzan còn cho rằng một nước vừa có thể là một nước lớn hơn trong một tổ hợp an ninh này nhưng lại là một nước nhỏ hơn trong tổ hợp an ninh khác.[3]

Nói cách khác, so sánh nước lớn – nhỏ chỉ có tính chất tương đối và tâm lý/ hành vi nước lớn – nước nhỏ không nhất thiết chỉ có trong cặp quan hệ giữa hai nước láng giềng cực lớn và cực nhỏ.

Sự kề cận địa lý, qua nhiều nghiên cứu đã cho thấy, là điều kiện tự nhiên làm tăng mức độ phức tạp của mối quan hệ bất cân xứng này. Đó là vì yếu tố địa lý tạo điều kiện dễ dàng cho hai bên giao lưu với nhau, và càng dễ giao lưu, càng phát sinh nhiều vấn đề. Các vấn đề đó có thể có nguồn gốc lịch sử.

Trong tất cả các tình huống nghiên cứu, các vấn đề lịch sử thường thấy (xếp theo thứ tự quan trọng) là: (1) tranh chấp lãnh thổ; (2) khác biệt liên quan tới quá trình hình thành và phát triển đất nước, giao lưu về văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ giữa các nhóm dân cư; (3) lịch sử quan hệ nói chung theo đó các vấn đề lịch sử được diễn giải và các tranh chấp/ khác biệt được tiếp cận và xử lý. Đặc biệt, các vấn đề liên quan tới nhận thức và xử lý các vấn đề lịch sử có tác động lớn đến quan hệ trong hiện tại.

Các vấn đề phát sinh cũng có thể có nguồn gốc từ một mối quan hệ đang phát triển. Nhiều tình huống nghiên cứu cho thấy giữa các nước láng giềng chung biên giới nổi lên một số vấn đề chính sau: (1) tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết, (2) tranh chấp kinh tế, thương mại và các quyền lợi kinh tế khác, (3) các lực lượng chính trị trong nước lợi dụng vấn đề đối ngoại để tập hợp lực lượng trong cuộc đấu tranh quyền lực nội bộ, (4) bên thứ ba khai thác mâu thuẫn trong quan hệ song phương nước lớn – nước nhỏ để tranh giành ảnh hưởng thông qua các chính sách chia rẽ, lôi kéo, bao vây…

Như vậy, sự cận kề địa lý cộng với yếu tố chênh lệch sức mạnh đã làm quan hệ giữa hai nước láng giềng vốn phức tạp lại có xu hướng phức tạp hơn.

Tuy nhiên, bản thân yếu tố cận kề địa lý và chênh lệch sức mạnh không quyết định sự tồn tại của các phức tạp và mức độ phức tạp trong quan hệ. Chúng là các yếu tố khách quan tồn tại: địa lý là yếu tố bất biến và sự chênh lệch sức mạnh phần lớn cũng là do yếu tố địa lý mang lại khi sức mạnh được đo bằng các tiêu chí cổ điển như diện tích lãnh thổ, tài nguyên, dân số… vốn là những yếu tố đầu tiên chi phối sự vận hành của quy luật phát triển không đều giữa các nước.

Hơn nữa, với các yếu tố đó, sự chênh lệch sẽ là vĩnh viễn và không thể san bằng. Như vậy, có thể cho rằng yếu tố cận kề địa lý và chênh lệch sức mạnh chỉ là điều kiện cần cho mối quan hệ phức tạp giữa hai nước láng giềng.

Điều làm cho mối quan hệ phức tạp này trở thành hiện thực nằm trong yếu tố chủ quan. Các yếu tố chủ quan này phần lớn thuộc về chính sách, với các khía cạnh sau:

(1)  Nhận thức và tâm lý nước lớn: Như đã nêu ở trên, nhận thức về sự vượt trội trong so sánh về sức mạnh (nhất là sức mạnh cứng, và một phần là sức mạnh mềm) làm nảy sinh tinh thần nước lớn, ý thức hệ hoặc thế giới quan nước lớn với bản chất là coi thường nước nhỏ. Qua một số nghiên cứu tình huống, điểm nổi bật là tinh thần nước lớn của Nga, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản đối với các nước láng giềng của mình. Tinh thần “đại quốc” là có thật và thường trực.

(2)  Thái độ ứng xử nước lớn: Tinh thần nước lớn thể hiện rõ nhất qua thái độ đối xử với nước nhỏ hơn. Hiếm khi thấy các nước lớn có chính sách thực sự tôn trọng nước nhỏ và nhạy cảm về những tác động của hành vi nước mình gây ra cho nước nhỏ. Sự không tôn trọng thể hiện qua suy nghĩ và hành động, với tác động tổng thể là làm khắc sâu nhận thức về địa vị nước lớn – nước nhỏ, thường theo chiều hướng tiêu cực.

Quan trọng hơn, tinh thần nước lớn thể hiện rõ nhất trong cách thức nước lớn xử lý các vấn đề tồn tại cũng như vấn đề phát sinh. Các nước lớn thường coi nhẹ quyền lợi của các nước nhỏ, thậm chí đem ra đổi chác trong ván bài nước lớn: nếu hợp tác, nước lớn hơn thường giành lợi lớn hơn; nếu xung đột, nước lớn hơn thường bắt nạt nước nhỏ hơn; và luật lệ không ràng buộc nước lớn hơn, vì nước lớn thường cho mình quyền “phá lệ”.[4]

(3)  Tình trạng mất lòng tin trong quan hệ: Do tác động của tâm lý nước lớn và hành động của nước lớn, ở các nước nhỏ láng giềng cũng phát triển tâm lý nước nhỏ và hành vi nước nhỏ. Tương tác giữa hai dạng nhận thức và hành vi này càng làm rộng thêm khoảng cách nước lớn – nước nhỏ thậm chí khiến các nước nhỏ mất lòng tin vào nước lớn.

Nhiều nghiên cứu cho thấy vì các lý do lịch sử và hiện tại, không nước nhỏ nào tin vào lòng tốt mà nước lớn dành cho mình, viện trợ bao giờ cũng có điều kiện về sự thần phục, một hành vi không nể mặt của nước nhỏ bao giờ cũng phải trả giá…

Ngoài ra, sự không nhất quán giữa lời nói và việc làm của các nước lớn thường xuyên xảy ra. Để tự bảo vệ mình, các nước nhỏ áp dụng chính sách lôi kéo bên thứ ba để tăng thế mặc cả cũng như tăng cường thảo luận nội bộ để lựa chọn chính sách tối ưu với nước lớn. Điều này làm cho nước lớn cũng mất lòng tin vào nước nhỏ. Vòng xoáy mất lòng tin vì thế càng leo thang.

Việc tổng kết các yếu tố kể trên cho thấy trách nhiệm làm giảm tình hình căng thẳng phần lớn thuộc về nước được coi là lớn hơn. Nước nhỏ có nhiều lý do để nghi ngờ động cơ và hành vi của nước lớn và do đó nước lớn phải chịu gánh nặng lớn hơn trong việc xua tan sự nghi kị của nước nhỏ.[5]

Còn nữa


* Tiêu đề do Tuần Việt Nam tự đặt

[1] Khái niệm “chung biên giới” được áp dụng cho cả biên giới bộ hoặc/và biển. Giữa hai nước chung biên giới biển, nhận thức về mối đe dọa an ninh có thể giảm bớt do khoảng cách địa lý rộng hơn. Tuy nhiên, yếu tố tranh chấp lãnh thổ vẫn có, và khả năng rút ngắn khoảng cách bởi kỹ thuật vận tải và vũ khí ngày càng cao. Do đó, khái niệm láng giềng chung biên giới vẫn có thể sử dụng chung và mức độ phức tạp vẫn nguyên vẹn.

[2] Một điều lý thú là hầu hết các nước trong một giai đoạn cụ thể đều coi mình là nước lớn. Ở Đông Nam Á có Đại Xiêm, Đại Việt, thậm chí cả Đại Lào. Xem D. E. Hall, Lịch sử Đông Nam Á (Hà nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995).

[3] Buzan, Barry (1995), “The Post-Cold War Asia Pacific Security Order: Conflict or Cooperation?” trong Andrew Mack và John Ravenhill (chủ biên), Pacific Cooperation: Building Economic and Security regimes in the Asia Pacific region (Boulder: Wesview), trang 130-151; Buzan, Barry (1991), People, States, and Fear: An Agenda for International Security Studies in the Post-Cold War Era (New York: Harvester Wheatsheaf).

[4] Ví dụ Nga tự cho mình quyền can thiệp, đưa quân đội sang các nước thuộc khu vực Liên Xô cũ để bảo vệ công dân Nga ở đó. Ngày 12/8/2009, tại cuộc gặp với lãnh tụ các đảng phái trong Duma Quốc gia, Tổng thống Dmitry Medvedev nói rõ rằng sở dĩ Tổng thống phải trình dự luật đưa quân đội ra nước ngoài là vì chính cuộc chiến tranh 5 ngày với Gru-di-a cách đây một năm đã khiến ông phải nghĩ đến điều đó khi cần thiết. Trên thực chất, việc trình dự luật này liên quan tới sửa Luật Quốc phòng hiện hành ở Nga. Xem http://www.baovietnam.vn/the-gioi/229449/23/TT

[5] Đây là bản chất của lô-gíc “gánh nặng vĩ nhân” khá phổ biến trong quan hệ cá nhân cũng như trong quan hệ quốc tế. Một người được coi là “vĩ nhân” thường được coi là người có những tiêu chuẩn đạo đức cao và do đó có những dạng hành vi được cho là “chuẩn mực”. Điều này có giá trị nêu gương cho người khác, nhưng mặt khác cũng tạo ra sức ép làm cho người đó luôn phải gìn giữ và mực thước. Đối với một nước lớn cũng vậy, các tiêu chuẩn hành vi nước đó đặt ra cho các nước khác noi theo cũng trở thành hạn chế không cho nước đó có chính sách thuộc dạng “tiêu chuẩn kép”. Do đó, nhiều khi nước lớn phải chịu thiệt để giữ lòng tin của nước nhỏ, nhất là để xóa tan điều mặc nhận là nước lớn luôn coi thường quyền lợi của nước nhỏ. Xem Đặng Đình Quý và Nguyễn Vũ Tùng, “Vấn đề lòng tin và xây dựng lòng tin trong QHQT”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 1/2009.

[phần hai]

Các phân tích trên cho thấy rằng ngoài việc coi sự kề cận địa lý và sự chênh lệch tiềm lực với nước lớn là thực tế khách quan, các nước nhỏ cũng phải coi lối suy nghĩ và hành vi ứng xử của các nước lớn cũng là một thực tế phải đương đầu. Nói cách khác, quyền chủ động nằm trong tay nước lớn. Ở mức tối ưu, nước nhỏ chỉ có thể giành quyền chủ động trong thế bị động. Nhưng chừng đó cũng có thể trở thành nội dung của những “chính sách thông minh” giúp các nước nhỏ đối phó với nước lớn.

Chính sách đối phó với nước lớn trong thời đại ngày nay được xây dựng trên một tiền đề quan trọng. Đó là các nước nhỏ không còn nỗi ám ảnh bị các nước lớn xâm lược, thôn tính, sát nhập.

Lô-gic của chủ nghĩa Hiện thực nhấn mạnh đến tồn vong quốc gia không thích hợp với các phát triển của chính trị quốc tế liên quan đến các nước thuộc thế giới thứ Ba: các nguyên tắc cơ bản được hình thành trong quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai cũng như từ thập kỷ phi thực dân hoá (thập kỷ 60) đã không công nhận xâm lược và sát nhập lãnh thổ trong quan hệ giữa các quốc gia. Điều đó có nghĩa là mục tiêu sinh tồn của một nước không còn trở thành ưu tiên cao nhất. Như Migdal đã nhận xét, thực tế trong quan hệ quốc tế cho thấy số lượng quốc gia ra đời nhiều hơn số lượng quốc gia bị mất tên trên bản đồ quốc tế.[6]

Đối đầu Mỹ – Cuba. Ảnh: Guardian.

Như vậy, thách thức từ các nước lớn chủ yếu liên quan tới việc các nước lớn o ép các nước nhỏ, bao gồm việc hạn chế không gian tự chủ hành động của các nước nhỏ và giành phần hơn trong việc theo đuổi lợi ích quốc gia (kể cả trong bối cảnh song phương và đa phương.)

Tất nhiên, như đã nêu ở trên, mức độ o ép tỉ lệ thuận với sự bất cân xứng về tiềm lực và sức mạnh, vì một lý do đơn giản là nước lớn hơn có nhiều nguồn lực và công cụ để gây ảnh hưởng tới nước ít nguồn lực và công cụ hơn.

Thách thức từ các nước lớn chủ yếu liên quan tới việc các nước lớn o ép các nước nhỏ, bao gồm việc hạn chế không gian tự chủ hành động của các nước nhỏ và giành phần hơn trong việc theo đuổi lợi ích quốc gia (kể cả trong bối cảnh song phương và đa phương.)

Nhiều nghiên cứu tình huống đã cho thấy một số dạng chính sách các nước nhỏ sử dụng để đối phó với nước lớn và bước đầu phân tích các điều kiện để dạng chính sách đó có hiệu quả, nhất là nếu được đặt từ góc độ sức mạnh thông minh.

Xuất phát điểm đầu tiên là chính sách của một nước lớn có thể khác nhau với các nước láng giềng khác nhau. Điều này cho thấy chính sách của nước lớn lệ thuộc nhiều vào chính sách của nước nhỏ (với các yếu tố giá trị địa chiến lược/địa kinh tế đặc thù của nước nhỏ đó).

Tất nhiên, chính sách của nước nhỏ cũng lệ thuộc vào lịch sử của chính sách nước lớn đối xử với nước nhỏ đó và quá trình tương tác chính sách này sinh ra những sự khác biệt: một nước lớn đối xử với các nước láng giềng theo các cách khác nhau. Tuy nhiên, nếu coi tinh thần trịch thượng của nước lớn và sự chênh lệch về sức mạnh của nó với nước láng giềng và sự kề cận địa lý là thực tế khách quan thì sự chủ động chính sách của nước nhỏ nhằm hạn chế điểm tiêu cực, phát huy điểm tích cực trong chính sách của nước lớn mới là điều đáng bàn. Đây chính là bản chất của một chính sách đối ngoại thông minh, dựa trên ý tưởng chủ đạo cho rằng “ngoại giao là nghệ thuật của những điều có thể”.

Nói cách khác, các nước nhỏ thông minh không bao giờ chấp nhận và đổ lỗi cho “thực tế khách quan” mà luôn luôn tìm ra những giải pháp có lợi nhất trong hoàn cảnh thực tế. Quả thực, trong quan hệ quốc tế vẫn có những tình huống nước nhỏ “dắt mũi” được nước lớn.

Lựa chọn chính sách cho nước nhỏ

Một số nét chính liên quan tới chính sách của các nước nhỏ là:

1. Ở mức chung nhất, “phù thịnh” dường như là một chính sách được nhiều nước theo đuổi hơn khi kết quả quan sát được là một mối quan hệ tương đối ổn định và có lợi hơn cho nước nhỏ.

Trong không gian hậu Xô-viết, các nước như Bê-la-rút, Ka-dắc-xtan áp dụng chính sách này và kết quả là đã nhận được trợ giúp nhiều mặt của Nga, nhất là về kinh tế, an ninh và sự tôn trọng ở một mức độ nào đó. Nhưng một số vấn đề cốt lõi trong quan hệ nước lớn – nước nhỏ vẫn còn nguyên. Đó là tinh thần nước lớn của Nga, và theo đó là tính chất bất bình đẳng trong quan hệ song phương, dù đã giảm đi so với thời Liên Xô còn tồn tại.

Nhưng, điểm chung đáng lưu ý là trong quan hệ song phương giữa các nước này với Nga đã không xảy ra những vấn đề quá gay cấn buộc phải sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Nga đem lại cơ hội nhiều hơn là thách thức cho các nước này.

Có một số lý do giải thích vì sao các nước này lại áp dụng chính sách phù thịnh (thân Nga hơn các nước khác). Tuy nhiên, có thể thấy rằng thái độ ôn hòa của Nga đối với các nước này trong hiện tại và quá khứ kết hợp với nhiều yếu tố khác như: Chính trị tương đối tập trung ở các nước Bê-la-rút và Ka-dắc-xtan – điều đưa tới sự nhất trí trong nội bộ các nước này về chính sách thân hữu với Nga và chấp nhận ở một mức độ nào đó ảnh hưởng của Nga trong nội trị của mình; Vị trí địa chiến lược của các nước này quan trọng đối với Nga hơn là các nước lớn khác – điều đưa tới sự dính líu ở mức vừa phải của nhân tố nước lớn thứ ba… đã làm cho quan hệ giữa Nga và các nước này khá hữu nghị, dù vẫn còn các yếu tố phức tạp của quan hệ nước lớn – nước nhỏ.

Như vậy, có thể cho rằng các nước chủ trương hữu hảo với Nga đã có chính sách tương đối phù hợp và hiệu quả trong việc giảm thiểu sự bất lợi trong mối quan hệ bất cân xứng với nước láng giềng lớn là Nga. Thậm chí, trong trường hợp của Bê-la-rút, Nga còn áp dụng chế độ bao cấp/ưu đãi về mặt năng lượng như thời Liên Xô cũ.

Phù thịnh không có nghĩa là nước nhỏ bỏ hoặc coi nhẹ các nguyên tắc chủ yếu trong quan hệ với nước lớn. Cụ thể nước nhỏ vẫn phải giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong quan hệ với nước lớn. Đây là yếu tố “bất biến” trong quan hệ với nước lớn. Chừng nào nước lớn không chấp nhận nguyên tắc này, nước nhỏ phải kiên quyết đấu tranh. Đây không chỉ là vấn đề chiến lược mà còn là vấn đề có tính chiến thuật trong quan hệ với nước lớn: càng giữ được độc lập, giá trị của nước nhỏ sẽ càng cao trong quan hệ với nước lớn

Xét cho cùng, thái độ ôn hòa của Nga với các nước này dường như là sự “đền đáp” cho những nước quan tâm đến lợi ích của Nga. Cụ thể hơn, trong ba lợi ích an ninh, phát triển và ảnh hưởng trong chính sách đối ngoại của bất cứ quốc gia nào,[7] lợi ích ảnh hưởng dường như nổi trội hơn đối với các nước lớn. Nga không lo bị tấn công và các nước láng giềng cũng lệ thuộc nhiều vào nền kinh tế Nga.

Nhưng nếu “tự ái nước lớn” của Nga bị đe dọa (nhất là khi các nước láng giềng thuộc không gian hậu Xô viết tỏ ra độc lập hơn, bắt tay với các nước lớn khác, và có các hành động phủ nhận lịch sử để qua đó phủ nhận vai trò của Nga) thì Nga sẽ có hành động cứng rắn. Đây là một biểu hiện của tinh thần nước lớn, có lẽ ngày càng không thích hợp với tình hình và xu thế quan hệ quốc tế hiện nay.

Chọc giận Nga, làm cho tự ái nước lớn của Nga bị tổn thương cũng không phải là một chính sách thông minh và thực tế cho thấy các nước như Bê-la-rút và Ka-dắc-xtan đã không đi theo hướng này.

Độc lập, đa phương đa dạng hóa, nhưng coi Nga “nhỉnh” hơn so với các nước khác đã góp phần quan trọng trong việc giải tỏa quan hệ với Nga.

Thêm vào đó, trên cơ sở chứng minh được ưu tiên trong quan hệ với Nga, ngoài khả năng tăng cường quan hệ hợp tác, việc đấu tranh chống các biểu hiện nước lớn cũng như tranh thủ thu thêm lợi ích từ quan hệ với Nga sẽ trở nên dễ dàng hơn.

Tóm lại, chính sách theo hướng phù thịnh tỏ ra tương đối có hiệu quả trong hai trường hợp của Bê-la-rút và Ka-dắc-xtan.

2. Về thực chất, chính sách trung lập cũng mang nhiều nét tương đồng với sự lựa chọn “phù thịnh”. Trường hợp của Phần Lan tương đối điển hình.

Về nguyên tắc, Phần Lan chủ trương trung lập nhưng trên thực tiễn, nước này áp dụng chính sách thiên về Nga một cách khá tinh tế mà bản chất của chính sách đó là xây dựng được lòng tin của lãnh đạo Nga về một nước Phần Lan – tuy có chế độ chính trị và kinh tế khác với Nga – nhưng trân trọng và ưu tiên quan hệ với Nga cũng như có các kênh để truyền tín hiệu đó và hành động chứng tỏ cách tiếp cận đó.[8]

Một mặt, Phần Lan tích cực tăng cường quan hệ với các nước phương Tây để bớt lệ thuộc vào Nga. Mặt khác, chính Nga cũng không phản đối Phần Lan tăng cường quan hệ với phương Tây khi hiểu rằng Nga vẫn là ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của Phần Lan. Vị thế của Phần Lan trong chính sách của Liên Xô từ sau năm 1945 và nhất là sau chiến tranh Lạnh có thể nói là tối ưu.

3. Chính sách đối đầu dường như là sự lựa chọn ít hiệu quả nhất. Có nhiều lý do để các nước nhỏ chọn lựa sự đối đầu. Tuy nhiên, sự lựa chọn đối đầu dường như có mối liên hệ với mâu thuẫn nội bộ của nước nhỏ láng giềng. Trường hợp của Gru-di-a và U-crai-na cho thấy khá rõ điều này.

Các thế lực tranh giành quyền lực chính trị bên trong từng nước đã sử dụng Nga như là một mối đe dọa để kích động tinh thần dân tộc, dùng tinh thần dân tộc làm ngọn cờ tập hợp lực lượng trong cuộc đấu đá nội bộ. Lô-gic phổ biến của hiện tượng này là dùng nguy cơ bên ngoài để ổn định bên trong.[9] Cứ mỗi khi lực lượng thân Nga có ảnh hưởng trội hơn, quan hệ của Nga với U-crai-na và Gru-di-a trở nên ổn định và hợp tác hơn, theo đó các tranh chấp, mâu thuẫn song phương có thể có hướng giải quyết, các vấn đề gay cấn có thể tháo ngòi nổ. Nhưng cứ mỗi khi đấu tranh nội bộ ở hai nước này tăng lên, quan hệ với Nga lại trở nên khó khăn, căng thẳng, thậm chí xung đột.

Các nước nhỏ phần lớn bị thiệt hại khi lâm vào cuộc xung đột trực tiếp với nước lớn láng giềng

Sự lựa chọn đối đầu của nước nhỏ còn có thể được hình thành khi nước lớn – vì những lý do nhất định – có chính sách cực đoan, uy hiếp và đe dọa nhằm khuất phục nước nhỏ láng giềng.

Trường hợp của Cuba cho thấy Mỹ có thái độ xấu với Cuba kể từ khi cuộc cách mạng Cuba thắng lợi năm 1959 hoàn toàn do sự cay cú của tầng lớp lãnh đạo cao cấp của Mỹ thuộc cả hai đảng trước sự hình thành của một nhà nước Mác-xít ngay tại sân sau của Mỹ. Sự cay cú này bị mất đi phần lớn yếu tố ý thức hệ sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, nhưng sở dĩ không mất hẳn là vì sự ngạo mạn nước lớn của Mỹ đối với Cuba vẫn còn.

Ngoài ra, chính sách của Mỹ còn bị tác động bởi nhóm lợi ích hình thành trong số những người Cuba lưu vong chống chính quyền ở La Havana – đủ mạnh để ngăn chính quyền Mỹ có bước đi theo hướng hòa giải với Cuba. Quan hệ Mỹ – Cuba vì thế vẫn chưa có bước tiến về chất.

Các bước cải thiện quan hệ có thể diễn ra khi Mỹ có chính sách ôn hòa hơn, bớt đi liều lượng can thiệp, lật đổ trong cách tiếp cận mặc dù âm mưu thay đổi chế độ vẫn được theo đuổi – điều chính quyền Obama dường như đang áp dụng.

Nếu có thể tách bạch vòng luẩn quẩn có tính nhân quả của mối quan hệ thù địch nước lớn – nước nhỏ thì có thể cho rằng chính sách không khôn khéo của nước nhỏ cũng gây phức tạp thêm tình hình nhất là khi nước lớn không thiếu cách gây khó dễ cho nước nhỏ láng giềng.

Trong trường hợp này sự lựa chọn đối đầu và các nỗ lực đẩy mạnh quan hệ với các nước khác để cân bằng mối đe dọa từ phía nước lớn theo mô hình “cân bằng” là tương đối dễ hiểu. Yếu tố khác biệt về ý thức hệ và sự tập trung quyền lực trong nước nhỏ (cụ thể là không có sự thách thức đáng kể với lực lượng chính trị cầm quyền và theo đó là những tranh cãi về lựa chọn chính sách) càng làm cho sự đối đầu thêm sâu sắc, kể cả sau khi chiến tranh Lạnh chấm dứt.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào kết quả, các nước nhỏ phần lớn bị thiệt hại khi lâm vào cuộc xung đột trực tiếp với nước lớn láng giềng. Mức độ thiệt hại này thể hiện trên nhiều mặt. Trước hết, nước lớn bị đẩy tới vị thế khó có thể thỏa hiệp, vì lo sợ rằng bất cứ sự thỏa hiệp nào cũng là dấu hiệu của sự nhượng bộ cũng như thế yếu so với nước thứ ba. Vì thế, cách tiếp cận giải quyết tranh chấp thường theo hướng xung đột, quan hệ thường theo hướng căng thẳng trên nhiều mặt và nước lớn không thiếu cách để gây sức ép.

Về mặt chính trị, nước lớn luôn tìm cách ủng hộ phái thân mình ở nước nhỏ láng giềng và nếu phái chống mình nắm quyền, nước lớn sẽ tìm cách để gạt bỏ phái đó.

Ngoài ra, nước lớn còn kích động chủ nghĩa ly khai trong nội bộ nước nhỏ, xoáy sâu vào các mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo trong lòng nước nhỏ để làm suy yếu nước nhỏ hơn nữa. Do đó, chính sách nước lớn phần lớn có dấu hiệu can thiệp công việc nội bộ – điều làm cho tinh thần chống nước lớn có cơ hội phát triển mạnh hơn cũng như củng cố vị trí của phái chống, cô lập phái thân nước lớn.

Mức độ rủi ro đối với nước nhỏ là cao hơn, vì thế nhu cầu “chính sách thông minh” rõ ràng cao hơn.

Về mặt kinh tế, nước lớn tìm cách bao vây, cấm vận và tận dụng thế lệ thuộc của nước nhỏ về mặt kinh tế để gây sức ép kinh tế, qua đó tạo sức ép chính trị. Nói cách khác, nếu có thể tách bạch vòng luẩn quẩn có tính nhân quả của mối quan hệ thù địch nước lớn – nước nhỏ thì có thể cho rằng chính sách không khôn khéo của nước nhỏ cũng gây phức tạp thêm tình hình nhất là khi nước lớn không thiếu cách gây khó dễ cho nước nhỏ láng giềng.

Trên thực tế, do nước nhỏ ít có cơ hội sửa sai chính sách hơn so với nước lớn, mức độ rủi ro đối với nước nhỏ là cao hơn, vì thế nhu cầu “chính sách thông minh” rõ ràng cao hơn.

Thay lời kết luận

Tóm lại, việc áp dụng chính sách “phù thịnh” (ở các mức độ khác nhau) là một sự lựa chọn chính sách phổ biến hơn so với chính sách đối đầu (tức cân bằng lực lượng) với nước lớn láng giềng.

Tuy nhiên, phù thịnh không có nghĩa là nước nhỏ bỏ hoặc coi nhẹ các nguyên tắc chủ yếu trong quan hệ với nước lớn. Cụ thể nước nhỏ vẫn phải giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong quan hệ với nước lớn. Đây là yếu tố “bất biến” trong quan hệ với nước lớn. Chừng nào nước lớn không chấp nhận nguyên tắc này, nước nhỏ phải kiên quyết đấu tranh. Đây không chỉ là vấn đề chiến lược mà còn là vấn đề có tính chiến thuật trong quan hệ với nước lớn: càng giữ được độc lập, giá trị của nước nhỏ sẽ càng cao trong quan hệ với nước lớn.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu chiến lược này, các nước nhỏ sẽ phải có những bước triển khai chính sách theo những phương châm đặc thù, thể hiện đúng so sánh lực lượng chênh lệch với nước lớn.

Một nền ngoại giao hòa hiếu với nước lớn là điều cần có đầu tiên. Như đã phân tích ở trên, nếu chính sách “phù thịnh” (ở các mức độ khác nhau nhưng đều có đặc điểm là hòa bình chung sống, tôn trọng vị thế, ưu tiên lợi ích và đẩy mạnh quan hệ hợp tác với nước lớn láng giềng) là sự lựa chọn chính sách thì một nền ngoại giao hòa hiếu với nước lớn đó sẽ đóng một vai trò quan trọng.

Ở mức cực đoan, hòa hiếu thậm chí phải được hiểu là sự nhún nhường, kể cả nhịn nhục và chấp nhận một số thỏa hiệp miễn là không vi phạm đến mục tiêu căn bản của chính sách đối ngoại.

Mức độ phải chịu “nín nhịn” có thể được giảm đi thông qua các giải pháp sau: (i) Về song phương, tăng cường xây dựng lòng tin và thỏa thuận quy tắc ứng xử, đồng thời tăng cường quan hệ các mặt để tạo thế đan xen lợi ích, nhất là kinh tế (ii) Mở rộng quan hệ với các nước thứ ba để tạo thêm thế và lực cho nước nhỏ trong quan hệ với nước lớn, và (iii) Tham gia các cơ chế đa phương để tạo thêm ràng buộc hành vi và trách nhiệm của nước lớn đối với nước nhỏ.

Bản chất của chiến lược này là xây dựng sự lệ thuộc lẫn nhau, đan xen lợi ích một cách rất linh hoạt. Đặc điểm của quan hệ quốc tế hiện nay cho thấy có điều kiện để chiến lược này được triển khai. Các đặc điểm đó bao gồm: sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ; toàn cầu hóa và sự lệ thuộc lẫn nhau; sự nổi lên của các vấn đề toàn cầu; quá trình dân chủ hóa quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển và chi phối mạnh mẽ cục diện quốc tế…

Ngoài ra, các nước lớn tuy cạnh tranh gay gắt với nhau cũng đồng thời tìm kiếm sự thỏa hiệp, đẩy mạnh hợp tác làm cho nhu cầu tìm kiếm đồng minh từ các nước nhỏ không còn trở nên bức thiết như trong thời kỳ chiến tranh Lạnh.

Càng giữ được độc lập, giá trị của nước nhỏ sẽ càng cao trong quan hệ với nước lớn. Ảnh: Reuters.

Hơn nữa, khi toàn cầu hóa phát triển, các nước đều có thể tận dụng lợi thế so sánh của mình để phát triển: nước nhỏ, kể cả nghèo nàn và lạc hậu, cũng có thể có cơ hội hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động quốc tế.[10] Kết quả tổng thể của tình trạng này là vai trò và vị trí của các nước nhỏ tăng lên trong chính sách của các nước lớn, đa phương được ưa chuộng hơn đơn phương, và các nước nhỏ có nhiều điều kiện hơn để giữ vững độc lập chính trị và phát triển kinh tế. Trong hoàn cảnh đó thuận lợi đó, nước nhỏ có thể bớt đi liều lượng “nhịn nhục”.

Nếu bản chất của chính sách Câu Tiễn là “biến đại sự thành tiểu sự” thì trong tình huống này, nước nhỏ – với sự hỗ trợ của các thể chế/ tổ chức quốc tế và sự ủng hộ của các nước khác – cũng có thể “biến tiểu sự thành đại sự” để dùng sức mạnh bên ngoài đấu tranh với nước lớn láng giềng (giới hạn ở trong phạm vi không làm mất mặt nước lớn).

Tất nhiên, điều này càng chứng minh rằng những mặt thuận lợi mà điều kiện khách quan đưa lại phải được phát huy bằng những tư duy và chính sách có tính chủ quan. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng một số nước đã có chính sách hiệu quả hơn, tận dụng hoàn cảnh bên ngoài thuận lợi để đương đầu với nước lớn láng giềng.

Nói cách khác, mức độ “thông minh” trong chính sách khác nhau sẽ đưa tới kết quả chính sách khác nhau, do tuy có chung các điều kiện khách quan, các nước nhỏ không có một khuôn mẫu hoặc công thức chính sách chung để đương đầu với nước lớn láng giềng trong các hoàn cảnh cụ thể.

—-

(*) Tiêu đề phụ do Tuần Việt Nam đặt

[6] Joel Migdal, Strong Societies and Weak States: State-Society Relations and State Capability in the Third World, (Princeton, N. J.: Princeton University Press, 1988). Xem thêm đề tài An ninh phi truyền thống ở Đông Nam Á (Học viện Ngoại giao, 2007).

[7] Xem Vũ Khoan, “An ninh, phát triển và ảnh hưởng trong hoạt động đối ngoại” trong Chính sách đối ngoại Việt Nam, Học viện Quan hệ Quốc tế, (Hà nội: Nhà xuất bản Thế giới, 2007).

[8] Khi các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ có làn sóng đập tượng Lênin, Phần Lan đã tìm cách đem tượng của Lênin về trưng bày trang trọng ở Phần Lan. Hành động này làm cho lãnh đạo và nhân dân Nga – nhất là trong giai đoạn Tổng thống Nga V. Putin muốn khôi phục lại một số giá trị thời Liên Xô – rất cảm kích và theo đó Nga càng ôn hòa hơn với Phần Lan.

[9] Xem Edward D. Mansfield và Jack Snyder, From Voting to Violence: Democratization and Nationalist Conflict; Myths of Empire: Domestic Politics and International Ambition; (New York: Columbia University, 1998).

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s