Lưu trữ theo thẻ: Thơ Đường

Những cành mai xa xứ

Nguyễn Hữu Vinh, mùa đông Tân Trúc, Ðài Loan

Trong cuộc đời phiêu lãng của mình, tôi đã ấp ủ nhiều kỹ niệm về loài hoa mai. Dù bây giờ quê hương ở đó…muốn về về cũng được, sông Hương còn đó có ai giành…(1), nhưng… mỗi năm trong những lúc trời xuân sắp trở lại, thì cứ văng vẳng nghe trong lòng tiếng cười vui của cha mẹ, anh em, quây quần dưới ngôi nhà vườn đầy nụ xanh non, có cội mai già mảnh khảnh, lốm đốm điểm những nụ mai vàng vừa hé. Hình ảnh cô bạn gái nhỏ áo trắng năm xưa cũng hiện về trước mắt, đạp chiếc xe đạp đến chơi dựng kề dưới gốc cây mai trước hiên nhà. Cũng vậy, chiếc thiệp chúc tết của nàng năm xưa nay vẫn còn trong cặp, cành hoa mai trên thiệp lụa đã phai màu cũng còn cười bên hàng chữ…năm năm rồi cũng sẽ không lâu đâu…! Mỗi lần nhìn lại cánh thiệp xuân in hình đóa mai vàng đó, trong lòng lại cảm xúc đến rưng rưng. Không có gì mang đến cho tôi ý niệm mùa xuân trọn vẹn hơn khi nâng trên tay một đóa mai vàng.

Đành rằng mỗi loài hoa có một vẻ đẹp, một màu sắc và ý nghĩa riêng, nhưng sao giữa thế giới hoa xuân muôn hồng nghìn tía, tôi vẫn yêu hoa mai, nhất là loài mai vàng. Có lẽ hình ảnh đóa mai vàng đã hằn sâu vào ký ức tôi, vượt ra ngoài khuôn khổ cách đánh giá về cái đẹp thường tình để nghiễm nhiên trở thành biểu tượng của những gì thương yêu, thanh cao, giản dị và thân thiết.

Continue reading Những cành mai xa xứ

Tạp thi

Sang đông cỏ tốt xanh rờn
Ðê buông liễu rủ gió vờn mạ non
Vì đâu quê cũ mỏi mòn
Cuốc ơi, xin chớ oán hờn bên tai

Nguyễn Hữu Vinh dịch

雜詩

無名氏

近寒食雨草萋萋
著麥苗風柳映堤
等是有家歸未得
杜鵑休向耳邊啼

Tạp thi

Cận Hàn thực vũ thảo thê thê
Trước mạch miêu phong liễu ánh đê
Ðẳng thị hữu gia quy vị đắc
Ðỗ quyên hưu hướng nhĩ biên đề

Vô danh thị

Dịch nghĩa:

Tạp thi

Gặp tiết Hàn thực (sau tiết Ðông Chí) mưa nhiều cây cỏ tốt tươi
Mạ non đong đưa trước gió, liễu rủ trên đê
(Nhưng mà) có nhà mà không về được
Chim Cuốc cuốc ơi, đừng nỉ non bên tai nữa

Chú Thích

Hàn thực: Tiết trời mùa đông sau tiết Ðông chí

Ý

Tiếng cuốc mòn mỏi trước cảnh hoang vắng rậm rạp cỏ cây, cõi lòng ủ ê, dằn vặt, nhung nhớ quê xưa.

Lầu Hoàng Hạc – Thôi Hiệu

Người xưa đã cưỡi hạc vàng
Bay rồi đây để lầu Hoàng nằm trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng lững lờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Xanh rì Anh Vũ bãi dày cỏ thơm
Quê hương khuất nẻo hoàng hôn
Sóng xao khói tỏa héo hon tấc lòng

Nguyễn Hữu Vinh dịch

黃鶴樓

崔顥

昔人已承黃鶴去
此地空餘黃鶴樓
黃鶴一去不復返
白雲千載空悠悠
晴川歷歷漢陽樹
芳草萋萋鸚鵡洲
日暮鄉關何處是
煙波江上使人愁

Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Thôi Hiệu

Dịch nghĩa

Lầu Hoàng Hạc

Người xưa đã cưỡi hạc đi rồi
Ở đây chỉ còn lại một mình lầu Hoàng Hạc nằm đó
Hoàng hạc bay đi không trở về nữa
Hàng ngàn năm mây trăng vẫn bay lờ lững
Trời trong phía bên sông kia là cây mọc nơi đất Hán Dương
Cồn Anh Vũ cỏ mọc đầy hoa rậm rì
Chiều về tắt mất hướng nẻo quê hương
Khói tỏa trên sông lăn tăn sóng gây nỗi buồn nhớ quê

Ý

Cảnh xưa còn đó, người xưa về đâu. Khói nước trên sông trong trời chiều bảng lảng, lai láng gợi nỗi lòng quê.

Xích Bích Vịnh – La Quán Trung

Chào các bạn,

La Quán Trung đương thời chắc là người hiền triết và văn chương kiệt xuất, nên đã để lại bộ Tam Quốc Chí cho đến nay thiên hạ vẫn còn gối đầu giường. Tác giả sau khi hoàn thành Tam Quốc Chí lại (khóa trái) bằng bài thơ Xích Bích Vịnh.

Có lẽ ông muốn để thông điệp cho người đời sau hãy chiêm nghiệm sự thị phi, được mất của cuộc đời.

Ở Việt Nam ta cụ Nguyễn cũng vậy, sau khi hoàn thành truyện Kiều, cụ đã (khóa trái) bằng mấy câu thơ:

    Thiện căn ở tại lòng ta,
    Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
    Lời quê chép nhặt dông dài
    Mua vui cũng được một vài trống canh.

Xích Bích Vịnh, mình đọc thấy hay, thích nên dịch để tỏ lòng cảm kích đối với người xưa.

Vịnh Xích Bích

Sông Trường cuồn cuộn về đông
Sóng vùi gió cuốn anh hùng tiêu tan!
Được thua rồi cũng phai tàn
Núi xanh năm tháng chiều vàng còn đây.
Ngư, Tiều đầu bạc sông này
Quen chơi trăng gió đêm ngày xuân thu.
Gặp nhau mừng rượu một bầu
Chuyện đời nhiều, ít cũng âu trận cười.

Đinh Đức Dược dịch

Nguyên văn:

Xích Bích Vịnh

Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy
Lãng ba đào tận anh hùng
Thị phi thành bại chuyển đầu không.
Thanh sơn y cựu tại
Kỹ độ tịch chiếu hồng.
Bạch phát Ngư, Tiều giang chữ thượng
Quán khan thu nguyệt, xuân phong
Nhứt hồ trược tửu hỉ tương phùng
Thế gian đa thiểu sự
Đô phó tiếu đàm phong.

Dịch nghĩa:

Sông Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông
Sóng dập, gió vùi chôn hết anh hùng
Chuyện phải quấy, được thua cuối cùng chỉ là con số không
Chỉ núi xanh vẫn y cũ
Năm tháng ánh trời chiều chiếu đỏ.
Hai mái đầu bạc Tiều phu và Ngư phủ tren bến sông
Đã quen với trăng mùa thu, gió mùa xuân
Một bầu rượu đục mừng nhau mỗi khi gặp
Ít nhiều chuyện thế gian
Đều dồn cho một trận cười.

Bài tứ tuyệt số 2 – Đỗ Phủ

Cò trắng điểm sông trong
Núi xanh hoa rực hồng
Xuân này chừng cũng muộn
Quê cũ mỏi mòn trông !

Nguyễn Hữu Vinh dịch

絕句 (其二)

杜甫

江碧鳥逾白
山青花欲燃
今春看又過
何日是歸年

Tuyệt cú (kỳ nhị)

Giang bích điểu du bạch
Sơn thanh hoa dục nhiên
Kim xuân khan hựu quá
Hà nhật thị quy niên

Ðỗ Phủ

Dich nghĩa:

Bài tứ tuyệt (bài số 2)

Màu nước sông xanh biếc làm màu lông chim thêm trắng
Non xanh làm hoa càng đỏ rực
Rồi xem, chừng mùa xuân này cũng qua mau
Ngày nào mới về quê nhà được

Chú Thích

Nhiên: Chỉ hoa nở rực màu hồng

Ý

Non xanh nước biếc, chim trắng, hoa nở rực hồng điểm tô cho cảnh xuân thêm tươi đẹp. Nhưng lại cũng một mùa xuân nữa sắp tàn. Dù cảnh xuân có tươi đẹp bao nhiêu, nhưng trong cõi lòng vẫn băng lạnh vì không biết ngày nào mới có dịp trở về quê cũ, nơi ấy cũng có một mùa xuân tươi thắm như ở đây!

Sông tạnh chiều cuối xuân nhớ bạn – Hàn Tông

Ráng chiều lưng trời thắm
Núi nhạt gợn mày ngài
Cỏ nước quanh bờ mượt
Quê đừng nhớ lúc này!

Nguyễn Hữu Vinh dịch

晚春江晴寄友人

韓琮

晚日低霞綺
晴山遠畫眉
春青河畔草
不是望鄉時

Vãn xuân giang tình ký hữu nhân

Vãn nhật đê hà ỷ
Tình sơn viễn họa mi
Xuân thanh hà bạn thảo
Bất thị vọng hương thì

Hàn Tông

Dịch nghĩa

Sông tạnh chiều cuối xuân nhớ bạn

Ráng trời chiều rực rỡ ở lưng trời
Núi xanh biếc xa quanh vòng như lông mày
Cỏ xuân tươi mượt bên bờ sông
Bây giờ không phải là lúc nhớ quê
(Đừng nhớ quê nữa, hãy xem cảnh đẹp trước mắt!)

Chú Thích

Hoạ mi: Núi chập chùng quanh vòng ở chân trời hình cong vòng như lông mày

Ý

Ngồi ngẩng nhìn hoàng hôn rơi rụng, phong cảnh xa xa, ráng chiều thắm đỏ, dãy núi trước mắt chập chùng mờ nhạt, lượn hình như lông mày phơn phớt của các nàng mỹ nữ, cúi đầu trông thấy cỏ cây bên bờ ao xanh mượt. À, phong cảnh hữu tình, đẹp như thế thì phải ngắm chớ, dẹp đi cái nỗi nhớ quê đi …Ừ, phải ngắm cảnh đi…mắt thì nhìn nhưng lòng thì nhớ quê nhà da diết!

Tạp Thi

Tạp Thi

Sang đông cỏ tốt xanh rờn
Ðê buông liễu rủ gió vờn mạ non
Vì đâu quê cũ mỏi mòn
Cuốc ơi, xin chớ oán hờn bên tai

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)

雜詩

無名氏

近寒食雨草萋萋
著麥苗風柳映堤
等是有家歸未得
杜鵑休向耳邊啼

Tạp thi

Cận Hàn thực vũ thảo thê thê
Trước mạch miêu phong liễu ánh đê
Ðẳng thị hữu gia quy vị đắc
Ðỗ quyên hưu hướng nhĩ biên đề

(Vô danh thị)

Dịch nghĩa:

Tạp thi

Gặp tiết Hàn thực (sau tiết Ðông Chí) mưa nhiều cây cỏ tốt tươi
Mạ non đong đưa trước gió, liễu rủ trên đê
(Nhưng mà) có nhà mà không về được
Chim Cuốc cuốc ơi, đừng nỉ non bên tai nữa

Chú Thích

Hàn thực: Tiết trời mùa đông sau tiết Ðông chí

Ý

Tiếng cuốc mòn mỏi trước cảnh hoang vắng rậm rạp cỏ cây, cõi lòng ủ ê, dằn vặt, nhung nhớ quê xưa.

Sơn Trung – Vương Bột

Trong núi

Lang bạt chốn Trường giang
Quê hương ngút dặm ngàn
Chiều thu dào dạt gió
Khắp núi lá rơi vàng

Nguyễn Hữu Vinh dịch

山 中

王勃

長江悲已滯
萬里念將歸
況屬高風晚
山山黃葉飛

Sơn trung

Trường Giang bi dĩ trệ
Vạn lý niệm tương quy
Huống thuộc cao phong vãn
Sơn sơn hoàng diệp phi

Vương Bột

Dịch nghĩa

Trong núi

Buồn lưu lạc ở đất Trường giang
Nhớ quê, đường về dài vạn dặm
Trời lại vào thu gió dào dạt thổi
Khắp núi đầy là vàng bay

Chú Thích

Trường giang: Sông Dương Tử

Ý

Tiếng thu rì rào, lòng quê dằng dặc, lai láng như lá mùa thu rì rào, lả tả khắp nơi! Nỗi nhớ quê lai láng, miên man trong tâm khảm như tơi tả theo lá vàng bay bay trong gió.
Đơn giản nhưng nhẹ nhàng, mỗi chữ như là một nốt nhạc gây nên trong tâm tư những âm hưởng vang xa, đi vào tận ngỏ ngách của cảm xúc.

Lý Bạch – Dữ Sử Lang Trung Khâm thính Hoàng Hạc lâu thượng xuy địch

Cùng nghe tiếng sáo trên lầu Hoàng Hạc
với Sử Lang Trung Khâm

Cũng làm khách biếm tận Trường Sa
Mắt dõi Trường An chẳng thấy nhà
Vi vút lầu Hoàng nghe tiếng địch
Trời hè mai rụng rớt đầy hoa

Nguyễn Hữu Vinh dịch


與史郎中欽聽黃鶴樓上吹笛
李白

一為遷客去長沙
西望長安不見家
黃鶴樓中吹玉笛
江城五月落梅花

Dữ Sử Lang Trung Khâm thính Hoàng Hạc lâu thượng xuy địch

Nhất vi thiên khách khứ Trường Sa
Tây vọng Trường An bất kiến gia
Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc địch
Giang thành ngũ nguyệt lạc mai hoa

(Lý Bạch)

Dich nghĩa

Cùng nghe tiếng sáo trên lầu Hoàng Hạc với Sử Lang Trung Khâm

Vì bị biếm chức đày đi Trường Sa
Hướng nhìn về phía tây chẳng thấy quê nhà
Có tiếng sáo ai thổi trên lầu Hoàng hạc
Trong thành trời tháng mùa hạ mà lòng lạnh lẽo như thấy hoa mai trong trời đông rơi rụng

Chú Thích

1. Cũng làm khách biếm: Lý Bạch ví mình như Giả Nghị nhà Hán cũng bị đày đi Trường Sa
2. “Lạc mai hoa” câu thơ liên tưởng tới điệu sáo buồn chia ly ” Mai Hoa Lạc”
3. Trường Sa cách Trường An xa ngun ngút

Ý

Nghe tiếng sáo buồn ai oán trên lầu Hoàng Hạc, làm Lý Bạch nhớ quê hương quay quắt, lòng hững hờ, thờ thẫn buồn lạnh như cái buốt lạnh trong trời đông có hoa mai rơi rụng, dù bây giờ phố xá đang ở đầu tháng 5 mùa hạ .

Xuân Hứng – Võ Nguyên Hành

Võ Nguyên Hành

Trời tạnh ngày mưa liễu sẫm xanh
Hoa tàn oanh nhảy động lay cành
Hồn quê xào xạc năm canh mộng
Theo gió xuân sang tới Lạc thành

Nguyễn Hữu Vinh dịch

春興

武元衡

楊柳陰陰細雨晴
殘花落盡見流鶯
春風一夜吹鄉夢
又逐春風到洛城

Xuân Hứng

Dương liễu âm âm tế vũ tình
Tàn hoa lạc tận hiện lưu oanh
Xuân phong nhất dạ xuy hương mộng
Hựu trục xuân phong đáo Lạc thành

Võ Nguyên Hành

Dịch ý

Xuân Hứng

Dương liễu đã trở màu sẫm xanh, trời đã tạnh cơn mưa lất phất
Hoa tàn đã rụng rơi nên chim oanh mới ló dạng
Gió xuân thổi suốt đêm mộng mị
Theo gió mơ về quê xa tận Lạc thành

Chú Thích

Lạc thành: Kinh đô cũ của Trung Quốc

Ý

Thương nhớ quê xa, mộng mị suốt canh dài trong đêm trời xuân, hồn mơ theo gió về thăm quê cũ xa xôi

Xuân dạ Lạc thành văn địch – Lý Bạch

春夜洛城聞笛

李白

誰家玉笛暗飛聲
散入春風滿洛城
此夜曲中聞折柳
何人不起故園情

Xuân dạ Lạc thành văn địch

Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
Thử dạ khúc trung văn Chiết liễu
Hà nhân bất khởi cố viên tình

Lý Bạch

Dịch nghĩa

Ðêm xuân nghe tiếng sáo trong thành Lạc Dương

Tiếng sáo ai thổi văng vẳng khi có khi không
Cùng với gió xuân về nghe khắp cả thành Lạc Dương
Ðêm nay nghe trong tiếng sáo khúc ca Chiết Liễu biệt ly
Có ai mà không động lòng nhớ về quê cũ

Dịch thơ

Ðêm xuân nghe tiếng sáo trong thành Lạc Dương

Sáo ai văng vẳng lắng tai nghe
Thành Lạc vi vu gió thổi về
Một khúc “Thiên thai” sầu biệt xứ
Hỏi ai không khỏi động lòng quê

Chú Thích

Trong bài, dịch giả đổi khúc “Chiết liễu”, là khúc ca dùng để chỉ chuyện ly biệt, ra thành khúc “Thiên thai”, chuyện của Lưu Thần, Nguyễn Triệu lên tiên rồi nhớ trần gian, cho hợp tình.

Ý: Tiếng sáo vi vu trong thành nội, hỏi ai không khỏi động lòng quê ?

Nguyễn Hữu Vinh dịch và bình

Văn nhạn – Vi Ứng Vật

聞雁

韋應物

故園眇何處
歸思方悠哉
淮南秋雨夜
高齋聞雁來

Văn nhạn

Cố viên miễu hà xứ
Quy tứ phương du tai
Hoài Nam thu dạ vũ
Cao trai văn nhạn lai

Vi Ứng Vật

Dịch nghĩa

Nghe tiếng nhạn kêu

Quê nhà xa hun hút ở phương trời nào
Nhớ nhà lòng dằng dặc buồn
Trời thu đêm mưa ở đất Hoài Nam
Ngồi trong nhà nghe tiếng nhạn ăn sương

Dịch thơ

Nghe nhạn kêu

Cố hương xa hun hút
Dằng dặc nỗi lòng quê
Đêm thu mưa đất khách
Ngồi nghe nhạn gọi bầy

Chú Thích

Miễu: Xa, nhỏ,
Hoài Nam: Tên đất
Trai: Phòng, hiên, chái nhà.

Ý: Quê nhà xa tít nghìn trùng, ngồi nghe mưa thu buồn nhỏ giọt, một vài tiếng nhạn ăn đêm lẻ loi vọng lại…để rồi tai vẫn nghe mưa, nhưng lòng vẫn mãi hoài thương nhớ về quê xa!

Nguyễn Hữu Vinh dịch và bình

Thục đạo hậu kỳ

蜀道後期

張說

客心爭日月
來往預期程
秋風不相待
先至洛陽城

Thục đạo hậu kỳ

Khách tâm tranh nhật nguyệt
Lai vãng dự kỳ trình
Thu phong bất tương đãi
Tiên chí Lạc Dương thành

Trương Thuyết

Dịch nghĩa

Đợi chờ nơi đất Thục

Lòng khách chờ đợi từng ngày tháng
Ði mong đúng hẹn ngày về
Gió thu không chờ đợi
Ðã thổi về tới thành Lạc Dương trước

Trương Thuyết

Dịch thơ

Đợi chờ nơi đất Thục

Tháng ngày ngong ngóng đợi
Ngày trở lại quê mình
Gió thu không chờ mãi
Về trước tới Lạc thành

Chú Thích

Tranh nhật nguyệt: nôn nóng đợi chờ
Ý: Gió ơi nôn nóng việc gì mà về quê trước, không đợi chờ ta?!

Nguyễn Hữu Vinh dịch

Tĩnh Dạ tư

靜夜思

李白

床前明月光
疑是地上霜
舉頭望明月
低頭思故鄉

Tĩnh Dạ tư

Sàng (1) tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Ðê đầu tư cố hương

Lý Bạch

Dịch nghĩa:

Nỗi lòng đêm trăng

Trước sân (1) ánh trăng vằng vặc
Như đất trời lộng toả hơi sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ quê hương

Dịch thơ:

Nỗi lòng đêm trăng

Trước sân treo ánh trăng vàng
Mênh mang bàng bạc ngỡ làn sương sa
Ngẩng lên ngóng ánh trăng xa
Cúi đầu thầm lặng thương nhà nhớ quê

Nguyễn Hữu Vinh dịch

Chú Thích

(1) Sàng: Theo Lương Bạch Tuyền, giám đốc viện bảo tàng Nam Kinh thì “sàng” chỉ vật chắn che trên mặt giếng nước trong sân nhà, chứ không phải là giường ngủ trong nhà.

Đề Kim Lăng độ – Trương Hỗ

題金陵渡
張祜

金陵津渡小山樓
一宿行人自可愁
潮落夜江斜月裡
兩三星火是瓜州

Ðề Kim Lăng độ

Kim Lăng tân độ tiểu sơn lâu
Nhất túc hành nhân tự khả sầu
Triều lạc dạ giang tà nguyệt lý
Lưỡng tam tinh hỏa thị Qua Châu

Trương Hỗ

Dịch nghĩa

Ðề thơ bên bến Kim Lăng

Ngồi trong gác nhỏ bên bến đò giữa cảnh núi sông
Khách trọ cảm thấy âu sầu
Dưới cảnh trăng tà đêm khuya nghe tiếng sóng thuỷ triều dào dạt
Ngẩn nhìn lên xa xa, nơi lốm đốm sao mờ kia là Qua Châu

Dịch thơ:

Ðề thơ bên bến Kim Lăng

Kim Lăng quán nhỏ bến giang đầu
Ðêm trọ khách xa chớm mối sầu
Ngóng nước triều dâng trăng chếch bóng
Sao mờ lấm tấm ấy Qua Châu

Chú Thích

Kim Lăng: Tên đất
Qua châu: Tên đất

Trên bước đường lưu lạc, đêm ngủ trọ bên bến đò Kim Lăng, ngồi giữa cảnh đất trời buồn tẻ này, một nỗi buồn xa quê từ từ, nhẹ nhẹ dấy lên trong lòng. Trong tiếng rì rào của nước thủy triều và trong bóng mờ của bóng trăng tàn giữa đêm khuya khoắt, bên lưng trời xa kia, A…nơi lấm tấm đốm sao trời … đó là Qua châu, quê ta!

Nguyễn Hữu Vinh dịch và bình