Danh mục lưu trữ: Thiền Thi

Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 10

ctld10

CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ

Đệ thập hội

Tượng chúng ấy.
Cóc một chân không, dùng đòi căn khí.
Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông.
Há cơ tổ nay còn thửa bí.
Chúng Tiểu thừa cóc hay chửa đến, Bụt sá ngăn bảo sở hóa thành.
Ðấng Thượng sĩ chứng thật mà nên, ai ghẽ có sơn lâm thành thị. Continue reading Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 10

Cư trần lạc đạo phú — Hội chín

cutranlacdao_hoi9

CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ

Đệ cửu hội

Vậy cho hay
Cơ quan tổ giáo, tuy khác nhiều đàng, chẳng cách mấy gang.
Chỉn xá nói từ sau Mã Tổ.
Ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng.
Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi
Khuếch nhiên bất thức, tai ngu mắng ắt còn vang.
Sinh Thiên Trúc, chết Thiếu Lâm, chôn dối chân non Hùng Nhĩ.
Thân Bồ Đề, lòng minh kính, bày giơ mặt vách hành lang. Continue reading Cư trần lạc đạo phú — Hội chín

Từ biệt

Thiền sư Chân Như hớp một ngụm trà, đặt lại tách trà vào chiếc khay đỏ trên chiếu, rồi nói với đệ tử là Thiền sư Khải Huệ đang quỳ trước mặt:

– Thầy sẽ nhập thất 7 ngày, đến đúng ngọ trưa ngày thứ 7, con mở cửa thất, mang thầy đi thiêu.

Khải Huệ nhìn thầy đăm đăm, gật đầu nhè nhẹ và “Dạ, thầy” rất khẻ. Ngăn dòng cảm xúc đang dâng, Khải Huệ hỏi rất nhỏ:

– “Thầy cần căn dặn gì con nữa không?”
Continue reading Từ biệt

Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 8

Hội thứ tám

 

CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ

Đệ bát hội

Chưng ấy
Chỉn xá tua rèn, chớ nên tuyệt học.
Lay ý thức, chớ chấp chằng chằng.
Nén niềm vọng, mựa còn xóc xóc.
Công danh mảng đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ.
Phước tuệ kiêm no, chỉn mới khá nên người thật cóc.
Dựng cầu đò, giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu.
Cương hỷ xả, nhuyễn từ bi, nội tự tại kinh Lòng hằng đọc.
Rèn lòng làm Bụt, chỉn xá tua một sức dồi mài.
Ðãi cát kén vàng, còn lại phải nhiều phen lựa lọc.
Xem kinh đọc lục, làm cho bằng thửa thấy thửa hay.
Trọng Bụt tu thân, dùng mựa lỗi một tơ một tóc.
Cùng nơi ngôn cú, chỉn chăng hề một phút ngại lo.
Rất thửa cơ quan, mựa còn để tám hơi đụt lọt.

Continue reading Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 8

Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 7

Hội thứ 7
 

Cư Trần Lạc Đạo Phú

Đệ thất hội

 
Vậy mới hay,
Pháp Bụt trọng thay, rèn mới cóc hay.
Vô minh hết, bồ đề thêm sáng.
Phiền não rồi, đạo đức càng say.
Xem phỏng lòng kinh, lời Bụt thuyết dễ cho thấy dấu.
Học đòi cơ Tổ, sá thiền không khôn tột biết nay.
Cùng căn bản, tả trần duyên, mựa để mấy hào li đương mặt.
Ngã thắng tràng, viên tri kiến, chớ cho còn hoạ trữ cong tay.
Buông lửa giác ngộ, đốt hoại bỏ rừng tà ngày trước.
Cầm kiếm trí tuệ, quét cho không tính thức thuở nay.
Vâng ơn thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo.
Mến đức Cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.
Cảm đức từ bi, để nhiều kiếp nguyền cho thân cận.
Ðội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay.
Nghĩa hãy nhớ, đạo chẳng quên, hương hoa cúng xem còn nên thảo.
Miệng rằng tin, lòng lại lỗi, vàng ngọc thờ cũng chửa hết ngay.
Continue reading Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 7

Cư trần lạc đạo phú – Hội 6

hội thứ 6

Cư Trần Lạc Đạo Phú

Đệ lục hội

Thực thế!
Hãy xá vô tâm, tự nhiên hợp đạo.
Đình tam nghiệp, mới lặng thân tâm.
Ðạt một lòng, thì thông Tổ giáo.
Nhận văn giải nghĩa, lạc lài nên Thiền khách bơ vơ.
Chứng lý tri cơ, cứng cát phải nạp tăng khôn kháo.
Han hữu lậu, han vô lậu, bảo cho hay: the lọt, duộc thưng.
Hỏi Ðại thừa, hỏi Tiểu thừa, thưa thẳng tắt: lòi tiền, tơ gáo.
Nhận biết làu làu lòng vốn, chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên.
Chùi cho vặc vặc tính gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo.
Vàng chưa hết quặng, xá tua chín phen đúc, chín phen rèn.
Lộc chẳng còn tham, miễn được một thì chay, một thì cháo.
Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm.
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung háo.
Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân.
Học đạo thờ thầy, rục xương óc chưa thông của báo.
 
Continue reading Cư trần lạc đạo phú – Hội 6

Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 5

    Ghi chú: Tấm ảnh bên trên là Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ, nghĩa là “tranh vẽ Trúc Lâm Đại Sĩ xuất núi”. Đây là tên của một tác phẩm hội họa khổ rộng của Việt Nam vào thời Trần. Trước đây bức họa được cho là của Trần Giám Như, một họa sư đời Nguyên. Nhưng dựa vào giám định của bảo tàng Liêu Ninh, được đề cập trong cuốn “Ngàn năm áo mũ”, thì chắc chắn bức tranh không phải do Trần Giám Như thực hiện. Ngoài ra dựa vào những lời đề bạt sau bức tranh, thì khả năng rất cao là của một họa sĩ Việt Nam [cần dẫn nguồn]. Tác phẩm là họa phẩm tranh thủy mặc kết hợp nghệ thuật thư pháp đặc sắc, nó miêu tả cảnh Trúc Lâm đại sĩ (tức Trần Nhân Tông) từ động Vũ Lâm xuất du. Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ được vẽ trên một trường quyển (长卷) có kích thước 961×28 cm.

    Năm 1922, bức thư họa được hoàng đế Phổ Nghi bí mật đưa ra ngoài và lưu lạc cho đến năm 1949 mới được đem về cất giữ tại Bảo tàng Liêu Ninh, thành phố Thẩm Dương. Cho đến trước tháng 4 năm 2012 những gì được biết về bức thư họa vẫn chỉ là những lời miêu tả, ghi chép trên văn bản. Vào tháng 4 năm 2012, trong một cuộc đấu giá, bản phục chế của bức thư họa được bán với giá 1,8 triệu đô la Mỹ. Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%BAc_L%C3%A2m_%C4%90%E1%BA%A1i_s%C4%A9_xu%E1%BA%A5t_s%C6%A1n_%C4%91%E1%BB%93

 

CTLD_5

 
Cư Trần Lạc Đạo Phú
Đệ ngũ hội

Vậy mới hay
Bụt ở cung nhà, chẳng phải tìm xa.
Nhân khuy bổn nên ta tìm Bụt, đến cóc hay chỉn Bụt là ta.
Thiền ngỏ năm câu, nằm nướng trong quê Hà hữu.
Kinh xem ba bận, ngồi ngơi mé nước Tân la
Trong đạo nghĩa, khoáng cơ quan, đà đụt lẫn trường Kinh cửa Tổ. Continue reading Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 5

Cư trần lạc đạo phú – Hội 4

ctld_4

 

Đệ tứ hội

Tin xem,
Miễn cóc một lòng, thì rồi mọi hoặc.
Chuyển tam độc, mới chứng tam thân.
Ðoạn lục căn, nên trừ lục tặc.
Tìm đường hoán cốt, chỉn xá năng phục dược luyện đan.
Hỏi pháp chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc.
Biết Chân như, tin Bát nhã, chớ còn tìm Phật Tổ Tây Ðông.
Chứng thật tướng, ngộ vô vi, nào nhọc hỏi kinh Thiền Nam Bắc.
Xem Tam tạng giáo, ắt học đòi Thiền uyển thanh quy.
Ðốt ngũ phân hương, chẳng tốn đến chiên đàn chiêm bặc.
Tích nhơn nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca.
Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thật ấy là Di Lặc.
Continue reading Cư trần lạc đạo phú – Hội 4

Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 3

 
Hội 3

 

Đệ tam hội

Nếu mà cóc,
Tội ắt đã không, pháp học lại thông.
Gìn tính sáng, mựa lạc tà đạo.
Sửa mình học, cho phải chính tông.
Chỉn Bụt là lòng, xá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ.
Vong tài đuổi sắc, ắt tìm cho phải thói Bàng công.
Áng tư tài, tính sáng chẳng tham, há vì ở Cánh Diều Yên Tử.
Răn thanh sắc, niềm đình chẳng chuyển, lọ chi ngồi am Sạn non Ðông.
Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc.
Sơn lâm chẳng cóc, hoạ kia thực cả đồ công.
Nguyền mong thân cận minh sư, quả bồ đề một đêm mà chín.
Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa ưu đàm mấy kiếp đơm bông.

Continue reading Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 3

Cư Trần Lạc Đạo Phú – hội 2

 
CTLD_2
 

Chào các bạn,

Đây là hội 2 của Cư Trần Lạc Đạo Phú của Trần Nhân Tông.

Ảnh bên trên là bản gỗ khắc của Hôi 2 bằng chữ Nôm. Dưới đây là phần dịch đọc Nôm ra chữ quốc ngữ và chú thích của Nguyễn Hữu Vinh. Sau đó là phần viết lại bằng tiếng Việt hiện đại và dịch sang tiếng Anh của Trần Đình Hoành.

Chúc các bạn vui hưởng.

Mến,

Hoành

Continue reading Cư Trần Lạc Đạo Phú – hội 2

Cư Trần Lạc Đạo Phú – Giới thiệu và Hội 1

 

Trần Nhân Tông
Trần Nhân Tông

Nguyễn Hữu Vinh

Trần Đình Hoành

Chào các bạn,

Thời đại Lý Trần là một khoảng thời gian huy hoàng trong lịch sử đất nước ta. Đây là 1 giai đoạn lịch sử oai hùng khi Đại Việt chiến thắng 3 lần tấn công liên tiếp của quân Mông cổ. Đây cũng là 1 giai đoạn văn chương Việt Nam phát triển rực rỡ, để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm văn chương rất có giá trị. Mộc bản khắc lại một phần các tác phẩm văn học thời này đã được khắc in và lưu giữ ở chùa Vĩnh Nghiêm, tỉnh Bắc Giang (1). Năm 2012 UNESCO đã chính thức ghi danh mộc bản này vào danh mục Di sản tư liệu ký ức thế giới.

Continue reading Cư Trần Lạc Đạo Phú – Giới thiệu và Hội 1

Dừng chân bên đường

Trên đường hành hương
Dừng chân bên hồ vắng
Trời trong xanh
Nước trong xanh
Ném viên sỏi vào mặt hồ tĩnh lặng
Ô những vòng đồng tâm
Của lòng ta gợn sóng
Một cánh hồng hạc
Lao xuống lòng hồ rồi lại vút lên
Mất hút vào quãng trời không
Những vòng sóng lăn tăn
Lại biến tan vào tĩnh lặng
Mây trắng
Lững lờ đáy nước
Tựa gốc phong già
Lá tím gió nắng lao xao
Con đường hành hương đất đỏ
Hun hút dài, hun hút cao
Qua dải đồi chiều
Biến mất sau cánh đồng thông
Về hướng rừng phong chập chùng vách núi

TĐH
LOW, 4;09pm, Wednesday, April 14, 2010

Bạn – Người Ngư Phủ

Chào các bạn,

Trước đây, trong bài Đường Thật chúng ta đã nói đến thi sĩ thiền sư Ikkyu, được xem như thiền sư có ảnh hường mạnh nhất trong văn hóa phổ thông của Nhật ngày nay, kể cả trong cách sách truyện bằng tranh cho trẻ em. Trong “Đường Thật” chúng ta đã nói đến bài Các Bộ Xương, một bài thơ lớn trong văn học thiền tông Nhật Bản.

Hôm nay hãy cùng đọc hai bài thơ nhỏ, nhưng rất ý nhị, của thi sĩ thiền số một này: Bạn, và Người Ngư Phủ.

Bạn

Chỉ một công án đáng giải
Bạn


You

Only one koan matters
You

Người ngư phủ

Học kinh và thiền cứng ngắc có thể làm bạn mất Chân Tâm.
Nhưng dòng nhạc đơn chiếc của người ngư phủ có thể là kho tàng vô giá.
Mưa chiều trên sông, trăng lấp ló giữa những làn mây;
Tuyệt vời không tả được, hằng đêm người ngư phủ hát.

A Fisherman

Studying texts and stiff meditation can make you lose your Original Mind.
A solitary tune by a fisherman, though, can be an invaluable treasure.
Dusk rain on the river, the moon peeking in and out of the clouds;
Elegant beyond words, he chants his songs night after night.

Zen Master Ikkyu
Translated by TĐH

Đường thật

Thiền sư Ikkyu (do họa sĩ Bokusai)

Trước khi Ninakawa qua đời thiền sư Ikkyu đến thăm ông. “Tôi dẫn độ cho anh nhé?” Ikkyu hỏi.

Ninikawa trả lời: “Tôi đến đây một mình và tôi đi một mình. Thiền sư giúp tôi được gì?”

Ikkyu nói: “Nếu anh nghĩ là anh thật có đến và đi, đó là ảo tưởng của anh. Để tôi chỉ cho anh con đường trên đó chẳng có đến, chẳng có đi.”

Với các lời giảng, Ikkyu đã chỉ ra con đường rõ ràng đến nỗi Ninakawa mỉm cười và từ trần.
.

Bình:

• Ikkyu chính là người con trai nhận di chúc của mẹ trong bài Di Chúc ta đã nói qua. Người ta nói rằng Ikkyu là con không chính thức của Thiên hoàng Go-Komatsu.

Ikkyū (一休宗純 Ikkyū Sōjun, 1394-1481) là một thiền sư và thi sĩ lập dị hàng đầu trong lịch sử Thiền tông Nhật Bản. Ikkyu học nhiều thầy, nhưng không thích chùa chiền và cái mà Ikkyu cho là đạo đức giả và sự lười biếng của các nhà sư, nên chỉ sống lang thang ngoài đường. Tuy vậy Ikkyu vẫn có nhiều bạn bè trong giới thi ca và nghệ sĩ.

Ikkyu thích ăn ngon, thi ca, âm nhạc, và công khai ca tụng tình dục (sex) như là một phần tự nhiên của đời sống con người. Ikkyu có người yêu là cô ca kỹ mù Mori và làm một số bài thơ về nàng. Người ta cho rằng Ikkyu là người đã tạo ra truyền thống Thiền Chỉ Đỏ (Red Thread Zen), một nhánh của thiền Lâm Tế chấp nhận tình dục (sex) và cho phép các sư và ni được lập gia đình.

Dù Ikkyu thích đi lang thang và không ưa chùa chiền, khi chùa Daitoku-ji, một chùa Lâm Tế lớn ở Tokyo, bị hủy hoại trong trận nội chiến Ōnin (応仁の乱 Ōnin no Ran, 1467 – 1477), Thiên hoàng Go-Tsuchimikado chỉ định Ikkyū làm sư trụ trì. Ikkyu bất đắc dĩ phải nhận lời, và có công rất lớn trong việc gầy dựng chùa này trở lại. Chức vụ này cũng đặt Ikkyu vào vị trí truyền nhân chính thức và quan trọng của dòng thiền Lâm Tế.

Ikkyu có ảnh hường rất lớn trong văn hóa phổ thông của Nhật ngày nay. Các trẻ em xem Ikkyu là một anh hùng, thường xuyên phê phán quan chức sư sãi. Có rất nhiều sách truyện và phim hoạt hoạ trẻ em nói về cuộc đời Ikkyu.

Ikkyu cũng ảnh hưởng nhiều đến thi ca và nghệ thuật Nhật và góp phần lớn trong việc đưa Thiền vào mọi lãnh vực của đời sống Nhật.

Ikkyu đã nói gì với Ninakawa?

Dĩ nhiên là ta không biết. Tuy nhiên, Ikkyu có để lại nhiều bài thiền thi, trong đó bài nổi tiếng nhất là “Các Bộ Xương” (Skeletons), tóm tắt những điều quan trọng để “để lại” như là một di chúc. Có lẽ điều gì đó Ikkyu đã nói với Ninakawa cũng không ngoài bài thơ này. Bài thơ nói sâu hơn về các điểm mà mẹ của Ikkyu đã để lại cho Ikkyu trong chúc thư ngắn ngủi của bà nhiều năm về trước, chứng tỏ là lời mẹ đã không bao giờ phai trong lòng Ikkyu.

Các Bộ Xương, một tuyệt tác văn chương, với đạo pháp sâu sắc:

Các bộ xương

Này các thiền sinh, hãy tọa thiền chăm chỉ, và các bạn sẽ nhận ra rằng tất cả mọi thứ sinh ra trên đời này rốt cuộc chỉ là không, kể cả chính ta và mặt mũi nguyên thủy của hiện hữu. Tất cả mọi thứ đều từ không mà ra. Cái không nguyên thủy là “Phật”, và tất cả các từ tương tự khác — Phật tính, Phật vị, Phật tâm, Giác Ngộ, Tổ, Thượng đế — chỉ là những cách diễn tả khác nhau của cùng một cái không. Hiểu sai điều này thì bạn sẽ rơi vào địa ngục.

Một đêm… một bộ xương thảm hại hiện ra và nói những lời này:

Một cơn gió thu buồn rầu
Thổi qua thế giới
Cỏ tranh dợn sóng,
Trong khi chúng ta trôi đến đầm lầy,
Trôi ra biển.

Làm được gì
Với tâm trí của một người
Lẽ ra thì nên sáng
Nhưng dù hắn choàng áo thầy tu
Hắn chỉ để cuộc đời vuột qua hắn?

Gấn sáng tôi thiếp đi, và trong mơ tôi thấy tôi bị nhiều bộ xương bao vây… Một bộ xương đến gần tôi và nói:

Ký ức
Bỏ chạy và
Không còn hiện diện.
Tất cả đều là những giấc mơ trống rỗng
Chẳng ý nghĩa gì.

Vi phạm sự thật của vạn vật
Và lảm nhảm về
“Thượng đế” và “Phật”
Thì bạn sẽ không bao giờ tìm thấy
Con Đường thật.

Tôi thích bộ xương này… Hắn thấy mọi sự rất rõ, như chúng là. Tôi nằm đó với tiếng gió giữa những hàng thông thì thầm trong tai và ánh trăng thu nhảy múa trên mặt.

Cái gì không là mơ? Ai sẽ không kết thúc là một bộ xương? Chúng ta hiện diện như là những bộ xương có da bao bọc – đàn ông đàn bà – và mê đắm nhau. Nhưng khi hơi thở chấm dứt, da vỡ, sinh lý biến mất, và chẳng còn cao thấp. Bên dưới lớp da của người mà ta đang ôm ấp vuốt ve chẳng gì khác hơn là một bộ xương khô. Hãy nghĩ đến điều đó – cao và thấp, trẻ và già, đàn ông và đàn bà, tất cả đều như nhau. Hãy tỉnh thức về điều hệ trọng này và bạn sẽ lập tức hiểu ‎ý nghĩa của “không sinh và không tử”.

Nếu các mảnh đá
Có thể nhắc nhở
Đến người chết,
Thì các cối giã trà
Có thể là mộ bia tốt hơn.

Con người thật sự là những sinh linh đáng sợ.

Một vầng trăng
Sáng và trong
Trên bầu trời không một gợn mây;
Vậy mà chúng ta loạng choạng
Trong bóng tối của thế giới.

Nhìn kỹ đi – ngưng thở, gỡ lớp da, và tất cả mọi người rốt cuộc nhìn như nhau. Không cần biết bạn sống bao lâu, kết quả không thay đổi (kể cả hoàng đế). Vất đi cái ý niệm là “tôi hiện hữu.” Trao thân mình cho những đám mây trôi trong gió, và đừng mong sống mãi.

Thế giới này
Chỉ là
Một cơn mơ thoáng qua
Vậy sao lại run sợ
Tính hay bay biến của nó?

Quãng đời của bạn đã được định sẵn và mọi thỏa hiệp với thần linh để kéo dài nó ra đều vô ích. Hãy tập trung tâm trí vào một vấn đề lớn của sống và chết. Đời sống tận cùng bằng sự chết, đó là điều hiển nhiên.

Các đột biến của cuộc đời
Dù đau nhức,
Dạy chúng ta
Đừng bám chặt
Vào thế giới phù du này.

Tại sao người ta
Tốn phí trang sức
Trên bộ xương này
Khi nó đã được định phải biến mất
Chẳng lưu dấu vết?

Thân thể nguyên thủy
Phải trở về
Nơi nguyên thủy của nó:
Đừng tìm
Cái không tìm được.

Không ai thực sự biết
Bản chất của sinh
Hoặc nơi ở thật:
Chúng ta trở về nguồn
Và trở thành cát bụi.

Nhiều con đường bắt đầu
Từ chân núi
Nhưng tại đỉnh núi
Tất cả chúng ta ngắm nhìn
Một vầng trăng sáng.

Nếu tại cuối cuộc hành trình
Không có nơi
An nghỉ cuối cùng
Thì chúng ta không cần phải sợ
Lạc đường.

Không có khởi đầu,
Không có chấm dứt;
Tâm ta
Sinh ra và chết:
Cái không của không!

Lơ đểnh
Và tâm
Chạy loạn xạ;
Kiểm soát tâm
Và bạn có thể gạt nó sang một bên.

Mưa, mưa đá, tuyết và băng:
Tất cả đều rời rạc
Nhưng khi rơi xuống
Chúng trở thành một dòng nước
Của con suối trong lòng thung lũng.

Những cách hiển lộ
Chân Tâm đều khác nhau
Nhưng trong mỗi một cách
Ta có thể thấy
Cùng một sự thật thiêng liêng.

Hãy lấp kín con đường của bạn
Bằng lá thông rụng
Để không ai có thể
Biết được
Nơi ở thật của bạn.

Thật vô ích
Những tang lễ không ngừng trên núi Toribe:
Những người than khóc không nhận ra
Họ sẽ là người kế tiếp hay sao?

“Cuộc đời phù du!”
Chúng ta suy tư nhìn cảnh
Khói bay trên núi Toribe:
Nhưng khi nào chúng ta nhận ra
Rằng ta đang ở trên thuyền hỏa táng?

Tất cả chỉ là hão huyền!
Sáng nay,
Một người bạn khỏe mạnh,
Chiều nay,
Vài sợi khói hỏa táng.

Tội nghiệp!
Khói chiều trên núi Toribe
Bị thổi lồng lộn
Tới lui
Với gió.

Khi hỏa táng
Nó thành tro,
Và thành đất khi chôn.
Phải chăng chỉ có tội lỗi của ta
Là còn sót lại?

Tất cả tội lỗi
Đã phạm
Trong ba thế giới (*)
Sẽ phai mất
Cùng với tôi.

Thế giới là vậy đó. Những kẻ không nắm được lẽ vô thường của thế giới kinh ngạc và sợ thất thần vì những thay đổi đó. Rất ít người ngày nay kiếm tìm sự thật của Phật pháp, và các tu viện thì trống rỗng. Các sư ngày nay đa số là dốt nát và lãng tránh ngồi thiền như là một phiền phức; họ lười biếng thiền định, họ tập trung vào trang trí chùa chiền. Thiền tọa của họ là giả tạo, và họ chỉ mang mặt nạ các nhà sư – những chiếc áo chùng họ mang sẽ trở thành những bộ áo giáp tra tấn một ngày nào đó.

Trong vũ trụ của sinh và tử, sát sinh sẽ đưa vào địa ngục, tham lam đưa đến tái sinh thành ma đói; si mê làm người ta tái sinh thành súc vật; sân hận biến người ta thành quỷ. Tuân theo giới luật và bạn sẽ tái sinh là người. Làm việc thiện và bạn sẽ lên hàng trời. Trên sáu cõi này còn bốn cấp độ của Phật tử Trí Tuệ, tổng cộng là 10 cõi giới. Tuy nhiên, một Niệm Giác Ngộ cho thấy tất cả các cõi giới này đều là không, chẳng có gì giữa chúng, và ta chẳng nên ghê tởm, sợ hãi hay ham mê chúng. Hiện hữu chẳng là gì hơn một làn mây mỏng trên bầu trời mênh mông hay bọt bóng trên mặt nước. Không một niệm nào khởi sinh trong tâm, nên không có điều gì được tạo sinh. Tâm và vật là một, và là không, tuyệt đối chẳng nghi ngờ.

Sự sinh của con người cũng như lửa – bố là đá lửa, mẹ là hòn đá, và tia lửa tóe ra là đứa con. Lửa được khởi sinh từ các thành tố căn bản và cháy cho đến khi hết nguyên liệu. Sự ân ái giữa bố và mẹ tóe ra tia sống. Vì bố mẹ không có điểm khởi đầu, nên họ cũng chập choạng mờ ra; tất cả mọi thứ đến từ không – nguồn của mọi hình sắc. Hãy tự giải thoát mình khỏi hình sắc và trở về với nền tảng khởi thuỷ của hiện hữu. Từ nền tảng này, cuộc đời đi ra, nhưng hảy xả bỏ luôn cả ‎ý niệm này.

Chẻ toang ra
Một cây se-ri
Và chẳng có đóa hoa nào cả
Nhưng gió xuân
Mang đến hàng loạt bông hoa!

Không có cầu
Nhưng mây đi lên nhẹ nhàng
Đến tận thiên đàng;
Chẳng cần phải lệ thuộc vào điều gì cả
Phật Thích Ca dạy.

Phật Thích Ca thuyết pháp trong 50 năm, và khi đệ tử Ca Diếp hỏi ngài tinh yếu của giáo pháp, Phật nói, “Từ đầu đến cuối ta chưa hề nói lời nào,” và đưa lên một đóa hoa. Ca Diếp mỉm cười và Phật trao đóa hoa cho Ca Diếp, và nói những lời này: “Con đã nắm được Diệu Tâm của Chánh Pháp.” “Ý thầy là sao?” Ca Diếp hỏi. “Năm mươi năm thuyết giảng của thầy,” Phật nói, “hằng mời gọi con luôn luôn, như là gọi đứa trẻ vào vòng tay với lời hứa phần thưởng.”

Đóa hoa giáo pháp này không thể diễn tả được bằng vật thể, ‎ý niệm hay lời nói. Nó không phải là vật chất hay tâm linh. Nó không phải là kiến thức. Giáo Pháp của chúng ta là Đóa Hoa của Một Cổ Xe chở tất cả Phật của quá khứ, hiện tại và tương lai. Nó mang 28 tổ sư Ấn Độ và 6 tổ sư Trung quốc; nó là nền tảng nguyên thủy của hiện hữu – tất cả hiện hữu. Tất cả mọi sự đều không có điểm khởi đầu và như vậy tất cả đều gồm trong nó. Tám cảm quan (**), bốn mùa, tứ đại (đất, nước, lửa, gió), tất cả đều đến từ không, nhưng ít người nhận ra điều này. Gió là hơi thở, lửa là hoạt động, nước là máu; khi xác thân bị chôn hay đốt nó trở thành đất. Nhưng tứ đại cũng không có khởi đầu và chẳng bao giờ trường tồn.

Trong thế giới
Mọi thứ, chẳng trừ gì,
Đều không thật:
Ngay cả sự chết cũng là
Hư ảo.

Ảo tưởng tạo ra ảo ảnh là dù thân xác chết, linh hồn vẫn tồn tại – đây là một lầm lỗi lớn. Người giác ngộ nói rằng cả thân xác và linh hồn tan biến với nhau. “Phật” là không, và trời và đất trở về với nền tảng nguyên thủy của hiện hữu. Tôi đã gạt qua một bên 80 ngàn quyến kinh và gởi đến các bạn tinh túy trong quyển ngắn này. Nó sẽ mang an lạc đến với các bạn.

Viết điều gì
Để lại
Cũng lại là một loại mơ nữa
Khi tôi tỉnh thức tôi biết rằng
Sẽ chẳng có ai đọc nó.

Thiền sư Ikkyu
Trần Đình Hoành dịch từ tiếng Anh

TĐH chú thích:

(*) Ba thế giới (tam giới) là dục giới (thế giới của ham muốn), sắc giới (thế giới của hình sắc), vô sắc giới (thế giới vô hình).
(**) Tám giác quan đây là ngũ quan của cơ thể – sắc, thanh, hương, vị, xúc – và 3 cảm quan về ý: ‎ý thức, mạt-na thức, a-lại-da thức.

Skeletons

Students, sit earnestly in zazen, and you will realize that everything born in this world is ultimately empty, including oneself and the original face of existence. All things indeed emerge out of emptiness. The original formlessness is the “Buddha,” and all other similar terms — Buddha-nature, Buddhahood, Buddha-mind, Awakened One, Patriarch, God — are merely different express- ions for the same emptiness. Misunderstand this and you will end up in hell.

One night . . . a pitiful -looking skeleton appeared and said these words:

A melancholy autumn wind
Blows through the world;
The pampas grass waves,
As we drift to the moor,
Drift to the sea.

What can be done
With the mind of a man
That should be clear
But though he is dressed up in a monk’s robe,
Just lets life pass him by?

Toward dawn I dozed off, and in my dream I found myself surrounded by a group of skeletons . . . . One skeleton came over to me and said:

Memories
Flee and
Are no more.
All are empty dreams
Devoid of meaning.

Violate the reality of things
And babble about
“God” and “the Buddha”
And you will never find
the true Way.

I liked this skeleton . . . . He saw things clearly, just as they are. I lay there with the wind in the pines whispering in my ears and the autumn moonlight dancing across my face.

What is not a dream? Who will not end up as a skeleton? We appear as skeletons covered with skin — male and female — and lust after each other. When the breath expires, though, the skin ruptures, sex disappears, and there is no more high or low. Underneath the skin of the person we fondle and caress right now is nothing more than a set of bare bones. Think about it — high and low, young and old, male and female, all are the same. Awaken to this one great matter and you will immediately comprehend the meaning of “unborn and undying.”

If chunks of rock
Can serve as a memento
To the dead,
A better headstone
Would be a simple tea-mortar.

Humans are indeed frightful beings.

A single moon
Bright and clear
In an unclouded sky;
Yet still we stumble
In the world’s darkness.

Have a good look — stop the breath, peel off the skin, and everybody ends up looking the same. No matter how long you live the result is not altered[even for emperors]. Cast off the notion that “I exist.” Entrust yourself to the wind-blown clouds, and do not wish to live for ever.

This world
Is but
A fleeting dream
So why be alarmed
At its evanescence?

Your span of life is set and entreaties to the gods to lengthen it are to no avail. Keep your mind fixed on the one great matter of life and death. Life ends in death, that’s the way things are.

The vagaries of life
Though painful,
Teach us
Not to cling
To this floating world.

Why do people
Lavish decoration
On this set of bones
Destined to disappear
Without a trace?

The original body
Must return to
Its original place:
Do not search
For what cannot be found.

No one really knows
The nature of birth
Nor the true dwelling place:
We return to the source,
And turn to dust.

Many paths lead from
The foot of the mountain
But at the peak
We all gaze at the
Single bright moon.

If at the end of our journey
There is no final
Resting place
Then we need not fear
Losing our way.

No beginning,
No end;
Our mind
Is born and dies:
The emptiness of emptiness!

Let up
And the mind
Runs wild;
Control the [mind]
And you can cast it aside.

Rain, hail, snow, and ice:
All separate
But when they fall
They become the same water
Of the valley stream.

The ways of proclaiming
The Mind all vary
But the same heavenly truth
Can be seen
In each and every one.

Cover your path
With fallen pine needles
So no one will be able
To locate your
True dwelling place.

How vain
The endless funerals at the
Cremation grounds of Mount Toribe:
Don’t the mourners realize
That they will be next?

“Life is fleeting!”
We think at the sight
Of smoking drifting from Mount Toribe:
But when will we realize
That we are in the boat?

All is vain!
This morning,
A healthy friend;
This evening,
A wisp of cremation smoke.

What a pity!
Evening smoke from Mount Toribe
Blown violently
To and fro
By the wind.

When burned
It becomes ashes,
And the earth when buried.
Is it only our sins
That remain behind?

All the sins
Committed
In the Three Worlds
Will fade away
Together with me.

This is how the world is. Those who have not grasped the world’s impermanence are astonished and terrified by such change. Few today seek Buddhist truth, and the monasteries are largely empty. Priests now are mostly ignorant and shun zazen as a bother; they are derelict in their meditation, concentrating on decorating their temples. Their zazen is a sham, and they are merely masquerading as monks – the robes they sport will become the heavy coats of torture someday.

Within the cosmos of birth and death, the taking of life leads to hell; greed leads to rebirth as a hungry ghost; ignorance causes one to be reborn as an animal; anger turns one into a demon. Follow the precepts and you will attain rebirth as a human being. Do good deeds and you ascent to the level of the gods. Above these six realms there are four levels of the Wise Buddhists, altogether ten realms of existence. However, One Thought of Enlightenment reveals them to be formless, with nothing in between, and not to be loathed, feared, or desired. Existence is perceived as being nothing more than a wispy cloud in the vast sky or foam on the water. No thoughts arise in the mind, so no elements are created. Mind and objects are one and empty, beyond any doubts.

Human birth is like a fire – the father is the flint, the mother the stone, and the resulting spark is the child. The fire is ignited with the base elements and burns until it exhausts the fuel. The lovemaking between the father and mother produces the spark of life. Since the parents are without beginning, they too flicker out; all things emerge from emptiness – the source of every form. Free yourself from forms and return to the original ground of being. From this ground, life issues forth, but let go of this too.

Break open
A cherry tree
And there are no flowers
But the spring breeze
Brings forth myriad blossoms!

Without a bridge
Clouds climb effortlessly
To heaven;
No need to rely on
Anything Gotama Buddha taught.

Gotama Buddha proclaimed the Dharma for fifty years, and when his disciple Kashyapa asked him for the key to his teaching, Buddha said, “From beginning to end I have not proclaimed a single word,” and held up a flower. Kashyapa smiled and Buddha gave him the flower, saying these words: “You posses the Wondrous mind of the True Law.” “What do you mean?” asked Kashyapa. “My fifty years of preaching,” Buddha told him, “has been beckoning to you all the while, just like attracting a child into one’s arms with the promise of a reward.”

This flower of the Dharma cannot be described in physical, mental or verbal terms. It is not material or spiritual. It is not intellectual knowledge. Our Dharma is the Flower of the One Vehicle carrying all the Buddhas of the past, present, and future. It holds the twenty-eight Indian and six Chinese patriarchs; it is the original ground of being – all there is. All things are without beginning and are thus all-inclusive. The eight senses, the four seasons, the four great elements (earth, water, fire, wind), all originate in emptiness, but few realize it. Wind is breath, fire is animation, water is blood; when the body is buried or burned it becomes earth. Yet these elements too are without beginning and never abide.

In this world,
All things, without exception,
Are unreal:
Death itself is
An illusion.

Delusion makes it appear that though the body dies, the soul endures – this is a grave error. The enlightened declare that both body and soul perish together. “Buddha” is emptiness, and heaven and earth return to the original ground of being. I’ve set aside the eighty thousand books of scripture and given you the essence is this slim volume. This will bring you great bliss.

Writing something
To leave behind
Is yet another kind of dream
When I awake I know that
There will be no one to read it.

Zen Master Ikkyu
John Stevens translated from Japanese

(Trần đình Hoành dịch và bình)

.

The True Path

Just before Ninakawa passed away the Zen master Ikkyu visited him. “Shall I lead you on?” Ikkyu asked.

Ninakawa replied: “I came here alone and I go alone. What help could you be to me?”

Ikkyu answered: “If you think you really come and go, that is your delusion. Let me show you the path on which there is no coming and going.”

With his words, Ikkyu had revealed the path so clearly that Ninakawa smiled and passed away.

# 56

Đầu ngày

Đầu ngày

Mù sương che khuất dãy đồi
Triền non mây đọng chắn đôi địa đàng
Tùng lay huyễn ảo sơ hoang
Bỗng từ đỉnh núi rực vàng ánh dương

TĐH
LOW, 10:14 am, Sun., Feb. 28, 2010

Beginning of the day

The fog hides the hills
On mountainside the cloud freezes and divides the earth
The pines sway unreal and primordial
Suddenly from the mountaintop come the golden sunrays

translated by TĐH
LOW, 4:51 pm, Wed. March 3, 2010

Sao xa

Ngồi yên giữa cõi vô cùng
Bỗng dưng sao đến từ vùng vô biên
Hằng hà sa số quang niên
Cớ gì nay gặp giữa triền mênh mông
Nợ duyên nào đã gieo trồng
Từ vô lượng giữa cánh đồng thời gian
Nên giờ có dịp hỏi han
Gởi về một mảnh bình an thiên hà
Cảm ơn em lại gặp ta…

TĐH
Lake of the Woods
5:34 pm Wed., Jan. 27, 2010

Thở hơi ấm giữa trời đông

Thở hơi ấm
Giữa trời đông
Cuối năm
Bên cạnh dòng sông
Băng giá
Và những rừng cây trụi lá
Những dãy đèn Giáng Sinh
Còn sáng trên những nóc nhà
Những bầy em nhỏ
Còn trượt băng trên mặt dòng sông

Một năm lại sắp qua
Chuông giao thừa sẽ điểm
Và ta sẽ rủ bỏ những muộn phiền
Những dại khờ
Lầm lỡ
Viết lại trang sách mới
Trinh nguyên

Tạ ơn mùa đông
Đã làm sạch đất trời
Đã tuốt hết lá vàng lá chết
Để cuộc đời có thể vào xuân

Tạ ơn Trời đã cho ta những ngày lạnh giá
Để tuốt sạch những gai góc hồn ta
Để ta có thể tái sinh
Trong ánh bình minh mới

Tạ ơn mọi người
Đã cho mùa đông muộn phiền rơi rụng
Để cùng nhau
Ta có thể vào xuân
Với nụ non và những sắc màu

Vạn mùa đông đã qua
Vạn lần ta đã chết
Và vạn lần ta đã tái sinh
Trong những tháng năm lang thang trần thế

Tạ ơn Trời
Đã giữ ta trong vô lượng luân hồi
Để ta mãi sinh ra
Vào tâm thức mới
Vào những cõi trời
Gần hơi thở
Của Tình-yêu

Thở hơi ấm
Giữa trời đông
Bên cạnh dòng sông vô lượng

TĐH
4:32 pm, Wednesday, Dec. 30, 2009
Lake of the Woods, Virginia,  USA

Thân như điện ảnh

Chào các bạn

Lý Thái Tổ

Hôm  nay chúng ta bàn đến một bài thiền thi của thiền sư Vạn Hạnh, dạy học trò, đã đăng trước đây trong PPS Thiền Thi (Lý Trần)Thiền sư Vạn Hạnh họ Nguyễn, sinh vào khoảng năm 932, người làng Cổ Pháp, phủ Thiên Đức (hiện nay là làng Đại Đình, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh).  Ngài xuất giá ở chùa Lục Tổ, là học trò của Thiền Ông.  Ngài thuộc thế hệ thứ 7 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi của chùa Pháp Vân.

Thiền Sư Vạn Hạnh đã từng giúp vua Lê Đại Hành trị quốc, nhưng khi thấy vua Lê Long Đĩnh không còn là minh quân, thiền sư Vạn Hạnh đã cùng với Đào Cam Mộc sắp xếp việc triều chính và đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua hiệu Lý Thái Tổ năm 1009.

Vào ngày rằm, tháng 5, năm Ất sửu, Thuận Thiên 16 (1025), ở chùa Lục Tổ, trước lúc qua đời, thiền sư đã gọi học trò đến dặn dò trong bài Thị đệ tử sau:

Thị đệ tử

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

    Quốc sư Vạn Hạnh
    (Nguyễn Vạn Hạnh ?-1018)

Việt dịch:

Dạy học trò

Thân như điện chớp, có thành không
Cỏ cây xuân thắm, thu héo tong
Suy thịnh vào tay, lòng không sợ
Thịnh suy như sương bám cỏ đồng

    TĐH dịch

Thân như điện chớp có thành không

Thời xưa người ta gọi ánh chớp trên trời là điện.  Thân ta như điện chớp tức là có đó và biến mất ngay, có thành không.  Tức là  nói đến cái phù du tạm bợ của thân này.

“Có thành không” trong bản chữ Hán là “hữu hoàn vô”, tức là “có trở về không.”   Trở về, như vậy có nghĩa là, trước là không, sau mới thành có, sau đó lại trở về không.

Tức là, “không” đây chẳng có nghĩa là “không có” theo nghĩa triệt tiêu, zero.  “Không” đây là tên của bản tính nguyên thủy, bản tính đầu tiên, của tất cả mọi thứ trong vũ trụ.   Vì vậy, ta nên viết hoa cho dễ hiểu–Không

Người ta hay dùng hình ảnh “nước và sóng” để diễn tả “Không và có”.   Nước là bản tính nguyên thủy, sóng là hiện tượng bề mặt.  Nước thì luôn ở đó, nhưng mỗi con sóng thì chỉ hiện ra vài mươi giây là biến mất.  Sóng tan lại “trở về” nước.  Thân ta tan biến, lại trở về Không.

Như vậy khi chết đi, cái thân như ánh chớp này lại trở về bản tính nguyên thủy của mình là “Không”.  Chết chẳng phải là hết, mà là trở về bản tính nguyên thủy—Không.

Cỏ cây xuân thắm, thu héo tong

Có sinh thì có tử.  “Thành, Trụ, Hoại, Không” là bốn thời kỳ sống của vạn vật—sinh ra, đứng vững, hư hại, tan biến.   

Cây cỏ mùa xuân nẩy sinh mầm sống, hạ là thời sống mạnh, thu là vào giai đoạn héo úa,  đông là chết.

Con người có sinh thì có tử, cũng là lẽ tự nhiên.  Tử có nghĩa là thân này tan biến đi để trở về Không.

Vậy thì việc gì mà sợ chết?  Việc gì mà các đệ tử phải sợ, phải buồn việc thầy chết?

Suy thịnh vào tay, lòng không sợ. Thịnh suy như sương bám cỏ đồng. 

Khi xuống khi lên, khi thắng khi thua, khi thành khi bại, khi suy khi thịnh, cũng là lẽ tự nhiên.  Cả một đời người cũng chỉ là một ánh chớp, thì bao nhiêu suy thịnh lên xuống trong đời đó còn nhỏ và nhanh hơn cả một ánh chớp.  Mong manh phù du như giọt sương trên đầu cỏ, sẽ tan biến ngay dưới những ánh mặt trời đầu tiên.   Có gì mà phải quan trọng hóa chúng?  Có gì mà phải sợ?

Sống chết cũng chỉ là một tí lên xuống suy thịnh, như sóng lên sóng xuống, của vòng luân lưu “có hoàn Không, Không sinh có”, mà thôi.  Có gì mà phải sợ?


Chúng ta cần ghi chú thêm ở đây rằng, “không sợ” là một đức hạnh rất quan trọng trong đường tu Phật.  Người Giác Ngộ  có tâm tĩnh lặng, không sợ, không có bất kỳ nỗi sợ nào gây sóng gió trong tâm.

Trong 6 đường tu của Bồ tát (lục độ ba-la-mật), đường đầu tiên là bố thí—bố thí tiền (tài thí), bố thí Phật pháp (pháp thí), và bố thí tính không-sợ (vô úy thí).  Trong ba loại bố thí này, thì bố thí cao quí nhất là “vô úy thí”, tức là “bố thí tính không-sợ,” là  mang cho người ta sự can đảm và đức bình tĩnh.

Tóm lại, bài thơ này, nhắn nhủ đệ tử trước khi chết, rằng sống chết là lẽ tự nhiên.  Thân này cũng chỉ phù du như ánh chớp.   Đang có và sẽ trở về Không.  Cũng chỉ là  thịnh suy của sóng lên sóng xuống, sóng sinh và sóng tan, trên mặt biển.  Chẳng có gì phải lo sợ.

Binh thản đối diện cái chết.
Bình thản đối diện thịnh suy thắng bại ở đời.
Bình thản đối diện cuộc đời.

Không sợ.
Không sợ thắng bại,  thịnh suy, được mất, sống chết.

Tâm tĩnh lặng.

Chúc các bạn một ngày vui,

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Cư trần lạc đạo

Chào các bạn,

Trần Nhân Tông (1258-1308) là vua Đại Việt thứ ba của nhà Trần. Trước đó là Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông.

Sau khi nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của Tuệ Trung Thượng Sĩ, lên núi Yên Tử tu thiền, và tập hợp ba dòng thiền tại Việt Nam lúc đó là dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), dòng Vô Ngôn Thông, và dòng Thảo Đường, thành Thiền phái Trúc Lâm, còn tồn tại cho đến ngày nay với Trúc Lâm Thiền Viện ở Đà Lạt do thiền sư Thích Thanh Từ chủ trì.

Hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu một bài thiền thi ngắn nhưng rất sâu sắc của vua Trần Nhân Tông, là bài Cư trần lạc đạo, vừa đăng gần đây trong slideshow Thiền Thi.

Cư trần lạc đạo

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu báo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

    Trần Nhân Tông
    (Trần Khâm 1258-1308)


Sống đời vui đạo

Sống đời vui đạo cứ tùy duyên
Đói thì ăn no mệt ngủ liền
Trong nhà có của, đừng tìm nữa
Nhìn cảnh vô tâm, hỏi chi thiền

    TĐH dịch

Sống đời vui đạo cứ tùy duyên. Sống đời vui đạo. Không phải là “trốn đời vui đạo” theo kiểu “Lan và Điệp” như mọi người thường lầm tưởng. Đời và đạo là sống và vui.

“Đời đạo là sống vui. Đạo đời là vui sống.”

Có “sống đời” thì mới “vui đạo” được. Vì đời là đạo và đạo là đời. Ngoài đời không có đạo, ngoài đạo không có đời. Như thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác nói trong Chứng Đạo Ca :

Vô minh thực tính tức phật tính
Huyễn hóa không thân tức pháp thân

Giải thích:

Bản tính thực của vô minh (si mê) chính là tính phật
“Thân không thực” huyền ảo này chính là thân (thực) của tất cả mọi thứ

Đây cũng chính là “sắc bất dị không, không bất dị sắc” (sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc) của Bát Nhã Tâm Kinh.

• Muốn “sống đời vui đạo” thì phải “tùy duyên” Chữ “duyên” là chữ bao gồm toàn bộ tư tưởng Phật học.

“Duyên” là nhân quả. Những gì xảy ra bây giờ là kết quả của tất cả mọi nguyên nhân (mọi nhân duyên) trước đó—một tích tắc trước cũng như vô lượng kiếp trước—và là nguyên nhân của những gì sau đó—một tích tắc sau cũng như vô lượng kiếp sau.

(Chỉ cần hiểu hết được lý‎ lẽ của chữ duyên—thập nhị nhân duyên, mười hai bước nhân duyên của cuộc đời—là đã có thể giác ngộ thành Bích Chi Phật)

“Tùy duyên” là “theo duyên”. Nghĩa là chuyện gì xảy đến cũng có l‎ý do của nó, cứ thuận theo đó mà sống–không cần phải chống lại nó, không cần phải phàn nàn về nó, không cần phải lo âu về nó, không cần phải stress về nó, như là:

Đói thì ăn no, mệt ngủ liền.

Chẳng ai phàn nàn tại sao đói. Chẳng ai thắc mắc tại sao mệt. Chẳng ai đau khổ mỗi khi đói bụng hay buồn ngủ.

Vậy thì, bệnh thì tìm thuốc chữa, cần tiền thì đi làm kiếm tiền, cần thi đậu thì học, cần hết stress thì giải stress…

Việc gì phải làm thì làm, chẳng lý do gì phải stress, phải phàn nàn, phải trách móc, phải giận dữ, phải đau khổ, phải than thân trách phận, phải tiêu cực.

Trong nhà có của, đừng tìm nữa.

Cái gì là báu vật vậy? USD? Hột xoàn mười mấy cara?

Không. Báu vật đó là cái tất cả mọi người trong thiên hạ đi tìm: Hạnh phúc.

Hạnh phúc: Nhà Phật gọi là Niết Bàn—hoàn toàn tĩnh lặng, hoàn toàn an lạc, thành người tĩnh thức, thành Phật.

Nhưng Niết Bàn không nằm ngoài ta—Niết Bàn đã có sẵn trong tâm ta. Phật cũng không nằm ngoài ta, Phật đã nằm sẵn trong tâm. Mỗi người chúng ta là Phật đang thành, là Niết Bàn sắp hiện.

Đừng tìm Phật bên ngoài, đừng tìm Niết Bàn bên ngoài. Trong nhà có của, đừng tìm nữa.

Nhìn cảnh vô tâm, hỏi chi thiền.

Nhìn cảnh thì thấy cảnh, đừng “chú giải” thêm vào cảnh đó. Như là nhìn“mưa rơi trên mái hiên” thì thấy “mưa rơi trên mái hiên”, chứ đừng chú giải thêm là “mưa rơi trên mái hiên buồn tênh” hay “mưa rơi trên mái hiên như những bước nhảy nhót của người yêu.”

Phụ chú tình cảm chủ quan vào “cảnh” ta thấy, là có tâm ý.

Chỉ nhìn cảnh, thấy cảnh, nhưng không phụ chú, không tam quốc diễn nghĩa thêm vào, gọi là “không tâm ý”, tức là “vô tâm.”

“Nhìn cảnh vô tâm” tức là nhìn người chửi mình mà không nổi giận; nhìn bệnh tật đến với mình mà không sợ hãi; nhìn nguy hiểm trước mắt mà không kinh khiếp; nhìn đống vàng mà không hoa mắt; nhìn danh vị mà không ham hố; nhìn quyền lực mà không say mê; nhìn túi quần không một xu teng mà không mặc cảm; nhìn thân thể tật nguyền mà không tủi thân, nhìn thế lực địa vị trong tay mà không kiêu mạn…

Điều gì đến thì đến, điều gì phải làm thì làm. Đến thì đến, nhìn thì nhìn, làm thì làm, nhưng tâm luôn bình lặng, luôn thoải mái, luôn an lạc.

Đó là vô tâm.

Và đó là Hạnh phúc, là Niết Bàn, là Phật tính.

Đối cảnh vô tâm. Nhìn cuộc đời với con tim hoàn toàn tĩnh lặng.

Như thế thì không còn tham lan, sân hận, si mê, kiêu mạn, sợ hãi, làm cho tâm bị mù lòa nữa.

Lúc đó tự nhiên ta thấy được của báu đã có sẵn trong nhà—cái tâm tĩnh lặng của mình, Phật tính của mình, Niết Bàn của mình.

“Đối cảnh vô tâm” là Phật, là Niết Bàn, là an lạc, là Hạnh phúc.

Thế thì đâu cần phải hỏi chi đến thiền, hay tu, hay pháp?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Si

Chào các bạn,

Hôm nay ta nói đến chữ “Si” trong Phật học, chữ cuối cùng trong tam độc tham sân si, nguồn gốc của mọi khổ đau.
ignorance
Chắc là ai trong chúng ta cũng đã biết cây si của các chàng si tình trồng trước cửa nhà các cô. Sở dĩ gọi là si, vì khi yêu thì thành mù quáng. Si là mù quáng, ngu dốt, đần độn… Vì vậy nên mới nói “si mê”. Đã mê thì phải si, chưa si là chưa mê. :-)

Trong Phật học, si là (1) không biết về nguyên lý căn bản của vũ trụ và đời sống: Tất cả mọi sự đều phù du, không chắc chắn, thay đổi không ngừng—tức là, mọi sự đều “vô thường” (non-permanent), và (2) mê say ôm chặt (tức là “chấp” vào, attached to) những cái vô thường đó.

Ở đây, chúng ta không cần phải đi sâu rốt ráo vào vô thườngchấp của những người tu đường Bồ tát, mà có thể dùng một khái niệm tương tự trong tư tưởng và luận l‎ý Tây phương khá quen thuộc với chúng ta ngày nay. Đó là khái niệm “tương đối” (relative, relativity).

• Tương đối hàm ý “so sánh”. Ví dụ: Khi ta nói “Cô ấy đẹp”, ta đương nhiên nói “So sánh với những người trung bình khác, thì cố ấy đẹp, nhưng so sánh với các hoa hậu thì chưa biết.”

• Tương đối hàm ý “lệ thuộc vào chủ từ”. Ví dụ: “Cô ấy đẹp” có nghĩa là “Đối với mắt tôi thì cô ấy đẹp, nhưng đối với mắt của người khác thì chưa biết.”

• Tương ‎đối hàm ý “có giới hạn”. Ví dụ: Khi ta nói “Anh ta rất thông minh”, ta vẫn hàm ‎ ý rằng có những điều anh ấy không biết.
Relativism
• Tương đối hàm ý “có thể thay đổi”. Ví dụ: “Cô ấy đẹp” có nghĩa là hiện thời cô ấy đẹp, nhưng khi cô ấy 50 tuổi thì chưa biết. Hay “Anh ấy rất giàu” có nghĩa là hiện thời anh ấy giàu, nhưng mai mốt thì chưa biết.

Trong cách nói hàng ngày, ta luôn luôn nói với nghĩa tương đối, dù là ta chẳng bao giờ nhắc đến từ “tương đối”, thậm chí chẳng nghĩ đến nó. Khi ta nói “Cô ấy đẹp” hay “Anh ấy thông minh” là đương nhiên ta hàm ‎các ý so sánh, tùy thuộc chủ từ, giới hạn, và thay đổi.

Nhưng…
khi ta nói về chính mình:

“Tôi rất đẹp, tôi rất tử tế, tôi rất hiền hậu, tôi rất đạo đức…”

thì lại là chuyện khác.

Khi nói về “tôi hiền hậu” chẳng hạn, ta thường hành động như là ta không nghĩ đến so sánh, chủ từ, giới hạn, và thay đổi. Ta hành động cứ như là “Tôi hiền hậu nhất thế giới, không ai bằng, và luôn luôn hiền hậu tại mọi nơi mọi lúc, vĩnh cửu, và tất cả mọi người trên thế giới đều đồng ‎ý như thế (dĩ nhiên ngoại trừ mấy người u mê).”

Khi nói, Tôi học giỏi, tôi đẹp, tôi khiêm tốn, tôi yêu người, tôi đạo đức… cũng thế. Ta suy tư và hành động cứ như là tôi giỏi nhất thiên hạ và sẽ giỏi vĩnh viễn và ai cũng biết, đẹp nhất thiên hạ và sẽ đẹp vĩnh viễn và ai cũng biết…

Đó là nói về các phương diện cụ thể của tôi…

Khi nói về tư tưởng trừu tượng của tôi, như là ‎ý kiến của tôi, phán đoán của tôi, chủ nghĩa của tôi, lòng tin của tôi, tôn giáo của tôi… thì sự tập trung vào tôi còn mạnh hơn ngàn lần, và hầu như ta quên hẳn “tương đối”:
closedminded
Mấy đám này vừa bất tài vừa thiếu giáo dục.
Chủ nghĩa dân chủ đa đảng là con đường duy nhất đưa đến thịnh vượng.
Chủ nghĩa xã hội là lối duy nhất đến hạnh phúc.
Tin tên đó là chỉ có bán nhà.
Chỉ có đạo tôi mới đúng, mấy đám khác là mê tín dị đoan.
Làm sao mà có thể yêu kẻ nửa người nửa ngợm vậy nhỉ?

Tất cả những điều này, ta thường tuyên bố và hành động một chiều như là chúng nhất định phải đúng 100% và “người khôn ngoan” thì phải biết các điều đó và sống với các điều đó.

Đương nhiên chúng ta biết, thái độ đó rất là trẻ con, vì…

Người già dặn hơn một tí ai cũng biết là điều gì hay và tốt cho mình chưa hẳn là hay và tốt đối với người khác, hay và tốt lúc này chưa hẳn là hay và tốt lúc khác, hay và tốt nơi này chưa hẳn là hay và tốt nơi khác.

Tương đối có nghĩa là cái nhìn của ta rất tương đối, và người khác có thể có cái nhìn khác ta, nhưng vẫn có thể đúng như ta. Nếu ta nói “voi hiền” thì cũng đúng, người khác nói “voi dữ” thì cũng đúng, tuỳ theo lúc voi đứng trong sở thú ăn mía hay đang trong rẫy phá mía.

Nếu biết rằng mọi suy tư, mọi chân lý ở đời đều có tính cách tương đối, và các suy tư hoặc chân lý khác nhau có thể đều đúng, thì ta không còn hồ đồ kiêu căng trong suy tư và phán đoán của mình, cũng như không ép buộc người khác phải nghĩ và làm như mình. Tức là, ta gạt bỏ được những khổ đau cho mình và cho xã hội quanh mình, sinh ra từ kiêu căng và áp bức của chính mình.

Thêm vào đó, ta lại có thể học cách suy tư để thấy cái đúng của người khác, tức là làm cho đầu óc và tư duy của mình giàu có hơn, thông thái hơn.

Bạn không cần phải thích ăn mắm nêm, nhưng đừng đòi hỏi mọi người hãy tẩy chay mắm nêm theo bạn. Và chẳng lý do gì mà bạn không sống thoải mái được với người thích mắm nêm, cũng như học thêm tại sao họ thích mắm nêm và mắm nêm có gì ngon với họ.

Hiểu được lý tương đối ở đời, và sống vui vẻ hòa hợp với mọi người trong‎ lý tương đối đó, chính là sống với thực tế cuộc đời, là mở rộng đầu óc để nhìn mọi vấn đề dưới mọi góc cạnh khác nhau, là không còn làm “người mù sờ voi”, là không còn “Si” nữa.

Trên phương diện xã hội học, tư duy tương đối chính là nền tảng của cách sống mà ta gọi là hòa đồng, cởi mở, dân chủ. Trong một xã hôi có nhiều người suy nghĩ và sinh hoạt khác nhau, thì cách sống hòa bình, công bình và thoải mái nhất là, mọi người cùng nghiên cứu phương cách để có thể sống chung hòa bình vui vẻ, thay vì một nhóm áp đặt một cách suy tư và sinh hoạt trên tất cả mọi nhóm khác.

Kết quả cuối cùng của việc hiểu lẽ tương đối là:

• Trên phương diện cá nhân: Ta khiêm tốn hơn vì biết mọi cái ta có cũng chỉ là tương đối (tức là vô thường); bình thản hơn vì biết bản chất hay thay đổi (vô thường) của đời sống và, do đó, sẵn sàng đối diện tương lai; thông thái hơn vì biết học cách nhìn của người khác.

• Trên phương diện xã hội: Xã hội bình đẳng hơn, nhân ái hơn, hòa bình hơn và thịnh vượng hơn, vì mọi người tôn trọng nhau, học hỏi nhau và gắn bó nhau.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Bài liên hệ: Tham, Sân, Si

Sân

Chào các bạn,

Hôm nay ta nói đến chữ “sân” trong ba độc “tham sân si”, ba nguồn gốc của mọi khổ đau theo Kinh Tham Sân Si của Phật gia.

Sân hay sân hận là nổi nóng, giận dữ, hờn giận, bực bội, la hét, chưởi bới, xù lông xù cánh… Sân là nóng ra ngoài. Hận là nóng ngầm bên trong. Chẳng ai trong chúng ta lạ lùng gì với sân hận.
anger
Nhưng, chẳng mấy khi ta nghĩ đến sân hận là nguồn gốc của đau khổ cho mình và cho cả thế giới của mình cả, phải không các bạn? Có ai đó nói một câu đụng chạm đến ta một cách bất công, ta “giải thích” ngay lập tức, với lời lẽ “dạy trẻ” hay “hăm dọa”, hay cả hai. Hoặc là mỉm cười dịu dàng với quả tim thâm tím, “Để đó, bà sẽ cho mày biết tay. Đời còn dài.”

* Ít khi chúng ta nổi nóng một cách bất công. Thông thường thì ta nổi nóng vì một anh chàng “ngu dốt” nào đó làm một điều “ngu dốt” nào đó, đụng chạm đến bản thân hay quyền lợi của ta, hay đụng chạm lợi ích xã hội, hay bất công với người khác… Nói chung là chúng ta thường có lý do “đúng” để nổi nóng. Rất ít khi ta nổi nóng vì hiểu lầm. Và tuyệt nhiên không ai nổi nóng mà không có l‎ý do.

Và đó chính là vấn đề khó khăn nhất ta đối diện: Vì ta luôn luôn có lý do chính đáng để nổi nóng, cho nên ta thường không thấy nổi nóng là một độc cần phải giải trừ.

* Hơn nữa, nổi nóng là một quyền lợi xã hội đi đôi với chức vụ. Ông là quan chức, ông có quyền nổi nóng với mày, mày là phó thường dân khố rách áo ôm mà dám hỗn với ông à?

Thầy cô có quyền nổi nóng, học trò thì không. Bố mẹ có quyền nổi nóng, con cái thì không. Chức cao hơn thì được nổi nóng, chức nhỏ hơn thì không.

Quyền nổi nóng gia tăng theo địa vị xã hội, cho nên vua là tồi nhất trong chứng bệnh này. Nói chạm đến lông chân của vua là chết như không.

Vì vậy rất nhiều người càng lớn tuổi và càng quyền lực thì càng tồi tệ với người nhỏ hơn và thấp hơn. Về khoản sân hận này, xem ra người ta có thể đi xuống trong khi người ta đi lên về địa vị và tuổi tác.

Khi nói đến sân hận, chúng ta có thể nghĩ ngay đến một đám teen nhảy choi choi đánh nhau trên đường phố. Nhưng thực ra, sân hận là vấn đề nhỏ đối với teen, mà là vấn đề lớn hơn rất nhiều đối với người lớn, và là vấn đề cực lớn với những người quyền cao danh trọng và lớn tuổi.

* Điều này rất dễ hiểu, vì càng quyền cao danh trọng thì “cái tôi” càng có nhiều cơ hội để trương phình vĩ đại—với bao nhiêu khen thưởng, nịnh hót, danh tiếng, quyền lực, tiền bạc dồn vào mình. “Cái tôi” càng trương phình, ta càng dễ tự ái vặt—ai phê phán một tí xíu thôi, là có thể đốt ngòi nổ chậm cho bom nguyên tử. Sống gần vua như sống gần cọp là thế.

Nhưng tại sao ta phải diệt sân hận?
anger1
Thưa, bởi vì kinh nghiệm cho thấy khi ta nóng, ta làm nhiều chuyện điên rồ và ngu dốt ngoài sức tưởng tượng. Đọc báo thì thấy nhan nhản hàng ngày: Chồng vợ cải nhau hai ba câu, ông chồng nổi nóng đổ ngay thùng xăng vào vợ và bật hộp quẹt. Học trò làm ồn, cô giáo bực mình tát cho một tát lũng luôn màng nhỉ. Một bạn nói bạn kia ngu, bạn “ngu” bèn rút dao đâm ngay tại cổng trường…

Và cái hận ngấm ngầm cũng chẳng kém hại tí nào, nếu không nói là hại hơn nóng bùng nổ. Truyện kiếm hiệp, ảnh hưởng lớn trong nền văn hóa nước ta, dạy “Quân tử báo thù 10 năm cũng chưa muộn.” Và nhiều người bỏ cả đời, chỉ sống để tầm thù. Hạng “quân tử” của đạo tầm thù và không biết đến đạo lý buông xả này, nhất định phải là sáng tạo của các tiểu nhân thời hậu thế mạt pháp, vì khó tưởng tượng được Khổng Tử–thầy dạy quân tử–lại có thể nhỏ mọn đến thế, chưa cần nói đến thầy dạy buông xả Thích Ca.

Mỗi phút sân hận là mỗi phút stress. Người sân hận thì không thể vui vẻ hạnh phúc được, và stress tạo ra đủ loại tâm bệnh và bệnh cơ thể, như động tim, đột quỵ, tăng khả năng ung thư, làm yếu hệ thống miễn nhiễm để bao nhiêu loại bệnh tha hồ tấn công… Nếu ai muốn đi sớm, thì cứ tự do sân hận thoải mái.

Ngoài cái hại cho chính mình, người nhiều sân hận chẳng vui vẻ được với ai, hay “chia” stress cho những người gần gũi, và gây đau khổ cho những người chung quanh, mỗi khi ai đó làm trái ý họ, dù đó là bạn bè hay thân quyến.

Lãnh đạo hay sân hận thì người dưới trướng sống như sống chung với cọp. Lãnh đạo quốc gia mà hay sân hận thì thường gây chiến tranh với lân bang.

* Điều quan trọng nhất ta thấy là, sân hận chẳng được một lợi ích gì cả. Không có điều gì mà ta không thể làm được mà không cần nổi nóng. Ta có thể làm được mọi điều rất tốt mà không hề phải nổi nóng một tí nào.

Thế nghĩa là sân hận chỉ có thể có hại, hoặc cùng lắm là vô hại trong một vài trường hợp lẻ loi, nhưng không thể có lợi gì cả. Cho nên chẳng có l‎ý do gì chúng ta phải có sân hận trong lòng.

Thế nhưng, không phải là đôi khi nổi nóng, làm dữ, cũng là cách tốt để chống sai trái sao?

Đúng như thế, khi gặp một nhóm cướp đường, có thể cách hay nhất là đập cho các chú một trận rồi bắt nhốt vào trại cải huấn, may ra mới lấy lại được an ninh cho đường phố và giáo huấn các chú được.
cooldown
Hoặc vợ bị chồng áp bức quá, phải nổi nóng chống lại kịch liệt thì may ra chàng ta mới bắt đầu kính nể.

Hoặc dân bị quan chà đạp quá, nổi nóng chống lại kịch liệt thì may ra mới có người nghe lời kêu nài.

Bản tính con người là như thế, đôi khi phản ứng mạnh mẽ thì mới đưa lại kết quả và công lý, còn lúc nào cũng dịu dàng chưa chắc đã được việc.

Nhưng phản ứng mạnh mẽ không có nghĩa là nổi giận hay sân hận, các bạn. Đây là hai điều hoàn toàn khác nhau.

Qui tắc chiến đấu thành công đòi hỏi một con tim thông suốt tĩnh lặng:

Nếu bạn phải chiến đấu như người nổi điên vì tức giận, thì hãy chiến đấu dữ dội như thế, với sự suy tính cẩn thận của một con tim trong trẻo tĩnh lặng như mặt nước hồ thu.

Nếu dữ dội vì suy tính bình thản mình phải làm thế, thì đó là chiến lược thắng,

Nếu dữ dội vì nổi nóng, đó là đường thua và đó không là chiến lược.

Tóm lại, sân hận, như HIV/AIDS chỉ có hại mà chẳng được lợi gì. Chẳng lý do gì mà ta không luyện tập để từ bỏ nó.

Nhưng làm sao để từ bỏ sân hận?

Người ta hay nói nhiều cách để chấm dứt sân hận, dẹp bỏ tính nóng, như là: Uống một ly nước khi nổi nóng; hay có nhiều lòng từ và yêu thương mọi người… Mọi cách đó đều tốt cả. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của mình thì có 2 điều dễ làm nhất để trừ sân hận từ từ. (Trừ từ từ vì bản tính con người không thể xoay ngược trong chỉ một ngày, một tháng, hay ngay cả một năm. Bất kỳ luyện tập nào cũng đòi hỏi kiên trì và nhiều công phu tu tập nhiều năm, mỗi ngày khá một tí). Hai điều đó là:

1. Không bao giờ làm quyết định gì khi bạn đang nổi nóng. Quyết tâm đợi hết nóng rồi hãy tính.

Nếu muốn giải thích cho hắn ta ngay vì mình đang nổi nóng, để đó tính sau. Nguội rồi hãy tính. Nếu muốn đấm cho hắn một đấm vì hắn phi lý quá, để đó tính sau. Hết nóng rồi hãy tính. Không làm quyết định gì khi đang nóng, kể cả khi đang “nóng ngầm.”

Quyết định khi đang nóng đơn giản là dốt, là bất trí.

2. Luôn luôn nhắc mình rằng sân hận hoàn toàn chỉ có hại mà không có lợi, và ta sân hận chỉ vì ta còn là nô lệ của thói quen.

Vì vậy, không l‎ý do gì ta phải tiếp tục nô lệ trong con đường bất trí đó, mà không tìm cách làm chủ tâm mình để có được tự do.

Nếu mình biết sân hận là cái phải dứt bỏ như thế, thì rất khó để cho nó có thể sống lâu trong mình.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Tham, Sân, Si

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com