Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Tư Duy

Chào các bạn,
buddha2
Ý nghĩa của sự tồn tại của con người là gì? Ngẫu nhiên hay có mục đích? Và chiều tiến hóa tiếp theo của con người sẽ như thế nào? Đây là những câu hỏi nhân sinh mà con người luôn tìm kiếm câu trả lời trong các truyền thống tôn giáo khác nhau. (Xem Bước tiến hóa của con người_TĐH )

Trong kinh điển Phật giáo, khi các bậc A-la-hán đã tự giải thoát mình nhờ hiểu biết chân chánh về Tứ Diệu Đế sẽ nhập Niết bàn và không quay lại trần gian theo luân hồi để trả nghiệp nữa. Nếu nhìn từ quan điểm đó, mục đích của thế giới ta bà này chính là để luyện tâm, để nhìn được bản chất của Tâm thanh tịnh, trong sạch. Chừng nào còn chưa nhìn ra được ý nghĩa trong sự vô thường của đời sống, chưa phát nguyện tu tập ‘Không làm các điều ác, tu tập các hạnh lành; giữ tâm ý trong sạch’, chúng ta còn bị trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Chừng nào còn bám vào ‘bản ngã’ của Ta, điều bám chấp đó sẽ ràng buộc chúng ta vào cuộc đời và đau khổ với những thay đổi không như ý muốn. Nếu chỉ sống với mục đích hạnh phúc cho bản thân Tôi, gia đình Tôi, con cái Tôi, sẽ đến thời điểm chúng ta cảm thấy trống rỗng trong tâm hồn, khi mọi thứ dường như vô nghĩa và những điều bất thiện trong suy tư và trong hành động mà chúng ta đã phạm không có cách gì có thể thay đổi.

Chánh Tư Duy, nhánh thứ hai của Bát Chánh Đạo, cùng với Chánh Kiến tạo nên nhóm Tuệ (hai nhóm còn lại là Giới, bao gồm Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, và ba nhánh còn lại thuộc về nhóm Định: Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định). Trong đạo Phật trí tuệ là quan trọng tối thượng, vì sự thanh tịnh có được là nhờ trí tuệ, do trí tuệ, tuy nhiên Đức Phật không bao giờ tán thán tri thức suông mà trí phải luôn luôn đi đôi với thanh tịnh tâm, với sự toàn thiện về Giới trong hành động. Sự toàn thiện về Giới củng cố Ðịnh và Ðịnh trở lại thúc đẩy Tuệ.

Tư duy rất quan trọng, vì những lời nói và hành động của con người đều xuất phát từ tư duy mà ra, hay nói cách khác chính tư duy đã được chuyển thành ngôn ngữ và hành động.

Chánh Tư Duy là kết quả trực tiếp của Chánh Kiến trong việc thấy các pháp đúng như chúng thực sự là, rằng bất kể một điều gì khởi lên đều chịu sanh diệt, đều vô ngã, ‘Ngũ uẩn, này các Tỳ kheo, là vô thường; bất cứ cái gì vô thường là khổ (Dukkha); cái gì khổ đều không có Tự Ngã. Cái gì không có Tự Ngã, cái đó không phải của ta, không phải là ta, không phải Tự Ngã của ta. Cần phải thấy với chánh trí tuệ (Sammapaàya) như chúng thực sự là như vậy. Ai nhờ chánh trí tuệ thấy được các pháp như chúng thực sự là, thời tâm người ấy không chấp thủ, được xả ly các cấu uế, do xả ly các cấu uế vị ấy được giải thoát’.

Khi Chánh kiến nhìn rõ được bản chất vô ngã của mọi vật mọi người mọi pháp như vậy, si mê, một trong 3 độc tham sân si sẽ được nhổ bật gốc, và mở đường cho Chánh tư duy đoạn trừ được 2 độc còn lại là tham và sân.

Chúng ta phải học cách trực diện với những tư tưởng về tham lam hay sân hận, học cách nhận biết sự xuất hiện và tái xuất hiện của tham và sân, và cuối cùng nhận biết chúng áp đảo tâm như thế nào. Chúng ta phải nhận ra được bản chất của chúng. Nếu một người cứ cho phép tâm mình tiếp tục nuôi dưỡng những tư duy tham lam và sân hận này mà không cố gắng kiểm soát chúng, chắc chắn những tư duy này sẽ mạnh mẽ hơn và thống trị tâm của họ. Nhưng nếu một người thực sự muốn đoạn trừ những ác tư duy, người đó sẽ cố gắng để thấy được sự sanh khởi của chúng và thấy được bản chất vô ngã của chúng, từ đó đoạn trừ được những tư tưởng độc hại.

Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng đây không phải là công việc dễ dàng chút nào, nó cần rất nhiều quyết tâm và nỗ lực.

Phật dạy rằng: ‘Hãy tu tập quán niệm tâm từ vô lượng vì nhờ tu tập lòng từ, sân hận sẽ bị đẩy lùi. Hãy tu tập quán niệm tâm bi vô lượng, vì nhờ tu tập lòng bi, hại và ác tâm sẽ bị đẩy lùi’. Lòng từ bi được coi như “trái tim” của Phật pháp, là một điểm có thể dùng để đánh giá trong quá trình tu tập của Phật tử, dựa vào lòng từ (ban vui) và bi (cứu khổ) có tăng trưởng trong quá trình hay không mà chúng ta biết có đi đúng đường hay không, và cũng dựa vào đó để phân biệt giữa bậc Bồ tát và phàm nhân.

Nhiều người nhầm lẫn giữa lòng từ bi vị tha (không phân biệt, không bám víu) và lòng thương yêu vị kỷ (bám víu vào một đối tượng nào đó). Ví dụ gần gũi và khó vượt qua nhất về tình yêu vị kỷ là tình yêu của bố mẹ dành cho con cái. Nhiều bậc cha mẹ sẵn sàng làm những điều bất thiện để con cái được sung sướng, nhận phần “bất thiện” về mình để con được trong sạch, nhưng không biết rằng tất cả chỉ là Một, bố mẹ và con cái chỉ là Một, chỉ một người làm ác thì tất cả phải chịu một phần hậu quả, cũng như một người làm thiện, tất cả đều được hưởng một phần lợi lạc. Đây cũng là ý chính trong Pháp Duyên Khởi của Phật pháp, tất cả mọi sự kiện đều là đa nhân sanh, và tất cả đều liên hệ đến nhau trong Toàn thể, ngay cả một tư tưởng nhỏ nhất cũng có khả năng rung động đến vô lượng thế giới.

‘Không có người tác nghiệp
Cũng không người thọ quả;
Chỉ có hiện tượng trôi chảy
Thấy như vậy là Chánh Kiến’

Con người khi vẫn còn bám chấp vào quan niệm cố chấp có “Ta”, Tôi và của Tôi, và tất cả mọi câu hỏi đều xoay quanh cái Ta này, sẽ thắc mắc cái gì đạt đến hay ai chứng đắc Niết bàn, mà quên mất rằng chỉ đạt được đến Niết bàn khi đã vô ngã, tức là cái “Ta” không còn hiện diện, cho nên có Niết bàn nhưng không có người chứng đắc Niết bàn. Khi một người nhìn rõ bản chất vô ngã và tiến trình hoại diệt “bất cứ pháp nào có bản chất sanh, tất cả pháp ấy đều có bản chất hoại diệt”, người ấy sẽ tự mình hiểu được Niết bàn thanh tịnh vẫn luôn nằm ngay trong Tâm.

Tổng kết lại, chúng ta có những suy tư cần diệt trừ, là những suy tư về tham dục, sân hận và ác độc, những suy tư cần tăng trưởng là về lòng từ bi vô lượng hướng đến tất cả mọi người mọi loài không phân biệt. Con người tuy rằng thông minh hơn các loài động vật khác, nhưng đều là các loài hữu tình cùng có ý nghĩa tồn tại tương đương nhau, chúng ta không có lí do gì giết hại ăn thịt các loài động vật khác chỉ để thỏa mãn sự khoái khẩu của mình. Sự sát sanh, chỉ gây ra những tầng lớp oán thù bủa vây con người trong sự bất thiện và tội lỗi, vì vậy Phật giáo chủ trương giữ Giới, tôn trọng sự tồn tại của các loài hữu tình như chúng ta.

Ngoài ra, chúng ta còn cần tránh những suy tư vô ích, trong kinh điển Phật giáo, có nhiều trường hợp mô tả Đức Phật đã giữ thái độ im lặng trước các câu hỏi siêu hình. Đức Phật giải thích điều này sẽ làm chúng ta chia trí, không tập trung vào việc diệt khổ, như người trúng tên độc hay nhà cháy mà không lo chữa, cứ thắc mắc các chuyện siêu hình.

Trong kinh Tương Ưng phần 41.I. Tư Duy (S.v,446) viết:

7) Do vậy, này các Tỷ-kheo, chớ có suy tư về thế giới : “Thế giới là thường còn”, hay : “Thế giới là vô thường”, hay : “Thế giới là hữu biên”, hay : “Thế giới là vô biên”, hay : “Mạng sống và thân thể là một”, hay : “Mạng sống và thân thể là khác”, hay : “Như Lai(*) có tồn tại sau khi chết”, hay : “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay: “Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết”, hay : “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”. Vì sao ?

8) Các điều suy tư ấy, này các Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải là căn bản cho Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

9) Nếu có suy tư, này các Tỷ-kheo, các Ông hãy suy tư : “Đây là Khổ”… “Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt”. Vì sao ?

10) Các suy tư như vậy, này các Tỷ-kheo, liên hệ đến mục đích, các suy tư ấy làm căn bản cho Phạm hạnh, các suy tư ấy đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

11) Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết : “Đây là Khổ”… một cố gắng cần phải làm để rõ biết : “Đây là Con Đường đưa đến Khổ diệt”.

Có nhiều sách vở học giả Phật giáo về sau cố giải thích những điều mà Đức Phật đã im lặng, cố gắng đặt vấn đề phải chăng Đức Phật có giải thích những vấn đề huyền hoặc này? Chúng ta cũng không cần có một kết luận nào, nhưng chúng ta có một điều có thể khẳng định rằng pháp mà Đức Phật biết thì nhiều hơn pháp mà Đức Phật đã nói. Trong kinh điển còn ghi lại, một hôm Đức Phật nắm một nắm lá trong tay và hỏi các đệ tử rằng:

“Này các Tỳ-kheo, trong tay Ta nhiều lá hay trong rừng nhiều lá?”. Các Tỳ-kheo trả lời: “Bạch Đức Thế Tôn, lá trong tay Thế Tôn rất ít so với là trong rừng ” Đức Phật dạy: “Cũng như vậy, những pháp mà Như Lai chứng biết như lá trong rừng, còn những pháp mà Như Lai nói cho các vị như lá trong nắm tay này, chỉ có một ít, những pháp mà Như Lai nói rất hữu hạn. nhưng tại sao Như Lai không nói hết? Vì chúng không có ích, không hướng dẫn mọi người chứng đắc Niết-bàn. Đó là nguyên nhân mà Như Lai không nói hết những pháp đó”.

Như vậy những điều này không phải Đức Phật không biết, mà vì Đức Phật quán thấy sự hạn chế của ngôn ngữ, không thể dùng ngôn ngữ bình thường để diễn đạt một cảnh giới siêu việt (xem thêm: Đức Phật không trả lời những câu hỏi siêu hình).

Chúc các bạn thanh lọc những suy tư của mình để giữ được tâm an lạc thanh tịnh trong cuộc đời đầy cám dỗ nhiễm ô này và không bị mất thời gian vào những suy tư vô ích “Cái gì tồn tại ở ngoại biên của vũ trụ này?” ^^

Hẹn gặp lại các bạn.

Phạm Thu Hường
07/10/2013

(*) Chú thích: Đức Phật gọi là “Như Lai” viết tắt của “Như Lai Như Khứ”–as it comes, as it goes (như đến như đi), tức là đấng tĩnh lặng, điềm nhiên tự tại, tự do, không dính mắc.

Bài viết sử dụng tư liệu trong cuốn Con đường Cổ Xưa của Tỳ kheo Piyadassi Thera, do Tỳ kheo Pháp Thông dịch.

Các bài cùng chuỗi:
Kinh Chuyển Pháp Luân: Trung Đạo
Kinh Chuyển Pháp Luân: Tứ Diệu Đế
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Kiến
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Tư Duy
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Ngữ
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Nghiệp
Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Mạng

6 cảm nghĩ về “Kinh Chuyển Pháp Luân — Bát Chánh Đạo: Chánh Tư Duy”

  1. Cám ơn Hường.

    Chánh kiến (nhìn đúng) và Chánh tư duy (suy nghĩ đúng) là 2 phần quan trọng nhất trong Bát chánh đạo.

    Chánh kiến là nhìn thấy ngã và chấp ngã là đau khổ. Vô ngã là giải thoát.

    Chánh tư duy là trong khi suy nghĩ luôn cảnh giác loại bỏ tham sân si, điều hại, điều ác, điều độc… và luốn suy nghĩ với lòng từ và lòng bi.

    Giữ được 2 điều này thì đã là Bồ tát rồi.

  2. Hi Thu Hường

    Sau khi đọc quyển “Con Đường cổ xưa” do Anh Hai giới thiệu, mình hiểu Chánh Kiến và Chánh Tư Duy của Bát Chánh Đạo, tạo nên nhóm Tuệ và không thể tách rời vì Chánh Tư Duy là kết quả trực tiếp của Chánh Kiến.

    Để dễ hiểu theo cách gọi thông thường, mình có thể tạm gọi: một bên là lý trí, một bên là tình cảm.

    Lý trí tức là cái lý luận cái nhìn của mình, mình tạm hiểu như Chánh Kiến.

    Và Chánh Tư duy là đời sống tình cảm mình hiểu như là những cảm xúc, cảm xúc đó lành mạnh thì đời sống mình mới có điều kiện để đi xa hơn và làm mọi việc tốt hơn.

    Muốn như vậy đừng để mình quá dính mắc vào, quá thích một thứ gì đó.

    Về phương diện cảm xúc lành mạnh của đời sống con người thì mình có quyền giận, nhưng không nên để chuyện phiền trở thành một phần thường xuyên cố hữu ở trong đời sống!

    Cái giá phải trả cho những sự sân, những sự phiền não đó là sân tư duy, sân tưởng, sân tầm, nó không lợi ích cho ai hết, vì vậy cần cố gắng xóa đi .

    Làm sao để tâm không quá dính mắc, cái gì mà dính mắc quá nhiều thì đó là dục cần để ý.

    Kiểm soát coi chừng cái sân, trong đời sống hàng ngày không nên mỗi chuyện mỗi giận nó làm cho đời sống trở nên như vết dầu loang.

    Và thường xuyên nhắc mình không nên oan kết oán thù, cái oan kết oán thù thật ra không có lợi cho ai hết, nó chỉ làm cho bản thân của mình bị oan trái đời này và đời sau!

    Con người còn nhiều bám chấp do vậy nên suy ngẫm và tìm hiểu nhiều về Chánh Tư duy và cần quán được Lời Phật dạy:

    ‘Hãy tu tập quán niệm tâm từ vô lượng vì nhờ tu tập lòng từ, sân hận sẽ bị đẩy lùi. Hãy tu tập quán niệm tâm bi vô lượng, vì nhờ tu tập lòng bi, hại và ác tâm sẽ bị đẩy lùi’.

    Matta Xuân Lành

  3. Dạ, em cảm ơn anh Hoành và chị Xuân Lành đã đọc và nhận xét. Em đọc và viết về Phật pháp cũng thấy hiểu được vấn đề sâu sắc hơn rất nhiều. Ngày trước em chỉ đọc và chưa thực sự thấy mình là người con của Phật, từ khi bắt đầu viết ra những dòng này em có ý thức rõ hơn và bắt đầu ăn chay để bớt đi một nhu cầu về sát sanh.

    Cảm ơn cơ duyên đã đưa em đến với ĐCN, em rất mong có ngày được đến thăm buôn làng của chị Xuân Lành, cùng với các bạn vườn chuối nữa. Đó chắc chắn sẽ là một dịp rất vui và ý nghĩa.

    Chúc cả nhà một ngày an lành
    Em Hường

  4. Cám ơn Thu Hường. :)

    Em chưa kịp đọc bài này đâu, vì em đọc những vấn đề này khá chậm. Nhưng thấy mọi người nói chuyện vui quá nên em muốn vào chào hỏi ạ. :)

  5. Hi Chị Hường,

    Cám ơn chị về bài viết. Em chưa hiểu nhiều về Phật Giáo, nhưng qua bài viết của chị e được biết thêm một chút. Nếu mỗi ngày biết một chút là mừng rồi chị ạ. :D

    Em Tuấn.

  6. Chào cả nhà,

    Dear chị Quỳnh Linh: Anh Hoành mới nói cho em biết tuổi của chị, chị bằng tuổi chị gái em ^^ (em sinh năm 1984).

    Cảm ơn Tuấn đã ủng hộ bài viết của mình, hi vọng những bài giới thiệu của mình đem lại cho những người bận rộn một vài điểm thú vị trong Phật pháp, và những người thong dong một quan điểm về Phật pháp để nhận xét và góp ý thêm cho em.

    Chúc bình an cho mọi người
    Em Hường

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s